The Kitáb-i-Aqdas - Notes

1. hương thơm ngọt ngào của y trang ta ¶4
 Đây là sự ám chỉ về Joseph trong Kinh Quran và Cựu ước, trong đó áo của Joseph được anh em của người mang về cho phụ thân người là Jacob, giúp cho Jacob nhận ra người con lưu lạc từ lâu của mình. Mỹ ngữ “y trang ngát hương” thường được dùng trong Kinh sách Baha’i để nói tới sự nhận biết Đấng Biểu hiện của Thượng Đế và Mặc khải của Ngài.

 Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah tự mô tả mình như là “Ngài Joseph Thiêng Liêng” đã bị những kẻ vô tâm đem “đổi chác bằng cái giá rẻ mạt”. Trong Kinh Qayyumul-Asma, Đức Bab nhận diện Đức Baha’u’llah như là “Ngài Joseph thực sự” và tiên báo những tai ương mà Ngài phải chịu đựng bởi tay người em bội phản (chú thích 190). Cũng giống như thế, Đức Shoghi Effendi đã nêu lên điểm tương tự giữa sự ganh tị căng thẳng mà tính ưu tú của Đức Abdul-Baha đã khơi dậy nơi người em khác mẹ là Mirza Muhammad-Ali, và thói ganh ghét độc hại “mà sự vượt trội cao độ của Joseph đã nhóm lên trong lòng các anh em của người”.

2. Chúng Ta đã khai niêm bình Tuyển tửu bằng ngón tay quyền năng và uy lực. ¶5
Việc dùng rượu và các chất có men gây say đã bị cấm trong Kitab-i-Aqdas (chú thích 144 , chú thích 170).

 Sự nhắc tới việc dùng “rượu” theo nghĩa bóng _ như là nguyên nhân của lạc phúc tinh thần _ thường được thấy. Không những trong Mặc khải của Đức Baha’u’llah, mà cả trong Kinh Thánh, Kinh Quran, và trong các pháp chánh truyền của Ấn Độ giáo nữa.

 Chẳng hạn như, trong Kinh Quran, có lời hứa hẹn với người chính trực rằng họ sẽ được cho uống “rượu tuyển niêm phong”. Trong các Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah đã đồng hóa “Rượu tuyển” với Mặc khải của Ngài mà “hương thơm ngạt ngào” đã bao trùm “trên tất cả tạo vật”. Ngài công bố rằng Ngài đã “khai niêm Rượu” này, tức đã tiết lộ những chân lý tâm linh mà cho đến nay chưa ai được biết, và giúp họ uống cạn rượu ấy để “thấy được vẻ huy hoàng của ánh sáng thống nhất thiên thượng” và “lĩnh hội mục đích chính yếu nổi bật trong các Thánh kinh của Thượng Đế”.

 Trong một bài Suy tưởng, Đức Baha’u’llah đã nài xin Thượng Đế ban cho các tín đồ “Rượu tuyển từ bi của Ngài, để rượu ấy có thể giúp họ quên hết mọi sự ngoài Ngài, để họ đứng lên phụng sự Chánh đạo của Ngài, và để họ được kiên định trong tình yêu của họ đối với Ngài”.

3. Chúng Ta đã truyền lệnh cho các ngươi đọc kinh cầu nguyện bắt buộc ¶6
Trong ngôn ngữ Á Rập có nhiều thuật ngữ về cầu nguyện. Thuật ngữ “salat”, xuất hiện trong bản gốc, nói tới một loại kinh cầu nguyện riêng biệt mà các tín đồ phải đọc vào các thời điểm cụ thể trong ngày. Để phân biệt loại kinh cầu nguyện này với các loại kinh cầu nguyện khác, thuật ngữ này đã được dịch là “kinh cầu nguyện bắt buộc”.

 Đức Baha’u’llah dạy rằng “sự cầu nguyện bắt buộc và trai giới chiếm một vị trí cao quí trước mắt Thượng Đế” (Vấn và Đáp 93). Đức Abdul - Baha xác nhận rằng các kinh cầu nguyện ấy “đưa tới sự khiêm tốn và vâng phục, giúp con người hướng mặt về Thượng Đế và biểu lộ lòng sùng kính đối với Ngài”, và rằng qua những kinh cầu nguyện ấy “con người giữ vững sự thông công với Thượng Đế, tìm phương tiến tới gần Ngài, chuyện trò với Đấng Kính yêu thực sự của lòng mình, và đạt tới những cương vị tâm linh”

 Kinh Cầu nguyện Bắt buộc (chú thích 9) nêu lên trong câu thánh thi này đã được thay thế bởi ba Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc do Đức Baha’u’llah mặc khải về sau (Vấn và Đáp 63). Nguyên văn ba bản kinh hiện đang được dùng, cùng với các chỉ dẫn về đọc tụng, đã được in trong tập sách này ở trong phần về Một số Kinh bản bổ sung vào Kitab-i-Aqdas.

 Một số mục trong phần Vấn và Đáp nêu rõ các phương diện của ba Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc mới. Đức Baha’u’llah dạy rõ rằng mỗi cá nhân được phép chọn đọc một trong ba Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc này (Vấn và Đáp 65). Các điều khoản khác được minh giải trong phần Vấn và Đáp 66, Vấn và Đáp 67, Vấn và Đáp 81, Vấn và Đáp 82.

 Các chi tiết về giáo luật liên quan tới sự cầu nguyện bắt buộc đã được tóm tắt trong mục IV.A.1-17 của phần Khái yếu và Pháp điển.

4. chín rakah ¶6
Một rakah là một cách đọc những câu kinh mặc khải đặc biệt có kèm theo một số qui định về lễ lạy và các động tác khác.

 Kinh Cầu nguyện Bắt buộc lúc đầu Đức Baha’u’llah thiết định cho các tín đồ gồm 9 rakah. Tính chất chính xác của kinh này và những chỉ thị cụ thể để đọc tụng ra sao, không ai biết, vì bản kinh đã bị thất truyền (chú thích 9).

 Trong một kinh bản luận về những Bài Kinh Cầu nguyện Bắt buộc đang được dùng, Đức Abdul- Baha chỉ ra rằng: “Trong mỗi từ và mỗi động tác của Kinh Cầu nguyện Bắt buộc đều có những ẩn dụ, những điều nhiệm mầu và sự minh triết mà con người không đủ sức hiểu, và bao nhiêu ngôn ngữ, bao nhiêu văn bản cũng không thể chứa đựng hết”.

 Đức Shoghi Effendi giải thích rằng một ít chỉ dẫn giản dị do Đức Baha’u’llah ban cho trong việc đọc mấy bản kinh cầu nguyện, không những có ý nghĩa tâm linh mà còn giúp cá nhân tín đồ “tập trung hoàn toàn khi cầu nguyện và suy tưởng”.

5. vào buổi trưa, buổi sáng và buổi tối ¶6
Về định nghĩa các thuật ngữ “sáng”, “trưa” và “tối”, là những thời điểm đọc Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc dài trung bình, Đức Baha’u’llah đã dạy rằng những thời điểm này trùng hợp với “mặt trời mọc, buổi trưa và mặt trời lặn” (Vấn và Đáp 83). Ngài nêu rõ rằng “thời gian cho phép để đọc các Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc là từ sáng đến trưa, từ trưa đến mặt trời lặn, và từ mặt trời lặn đến hai giờ sau đó”. Ngoài ra Đức Abdul-baha cũng dạy rằng Kinh Cầu nguyện Bắt buộc buổi sáng có thể đọc sớm từ lúc rạng đông.

Định nghĩa “buổi trưa” là thời gian “từ trưa cho đến mặt trời lặn” được áp dụng cho việc đọc Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc ngắn nhất cũng như cho bài dài trung bình.

6. Chúng Ta đã giảm bớt cho các ngươi rất nhiều Kinh Cầu nguyện ¶6
 Những đòi hỏi về sự cầu nguyện bắt buộc trong Tôn giáo Babi cũng như trong Hồi giáo còn nhiều hơn những đòi hỏi thực hiện Kinh Cầu nguyện Bắt buộc gồm 9 rakah như đã được qui định trong Kitab-i-Aqdas (chú thích 4).

 Trong Kinh Bayan, Đức Bab qui định Kinh Cầu nguyện Bắt buộc gồm mười chín rakah để đọc một lần trong thời gian hai mươi bốn giờ _ từ trưa hôm nay đến trưa hôm sau.

 Kinh Hồi giáo được đọc năm lần mỗi ngày, cụ thể là từ sáng sớm, giữa trưa, xế chiều, chiều tối và đêm. Trong khi số rakah thay đổi theo giờ giấc đọc kinh, tổng số rakah thực hiện trong một ngày là mười bảy động tác.

7. Khi các ngươi muốn thực hiện việc cầu nguyện này, các ngươi hãy hướng về Triều đường Hiện diện Chí tôn của Ta, Chốn Thiêng liêng này mà Thượng Đế đã... qui định làm Điểm Thờ phượng cho cư dân các Thành thị Vĩnh cửu ¶6
“Điểm Thờ phượng” nghĩa là điểm mà người thờ phượng phải hướng về mỗi khi đọc Kinh Cầu nguyện Bắt buộc, được gọi là Qiblih. Quan niệm về Qiblih đã tồn tại trong các tôn giáo xưa. Ngày xưa Jerusalem đã được chỉ định cho mục đích này. Đức Muhammad đã chuyển Qiblih sang Mecca. Chỉ thị của Đức Bab trong Kinh Bayan bằng tiếng Á Rập là:

Qiblih chính là Đấng mà Thượng Đế sẽ cho biểu hiện; mỗi khi Ngài di chuyển, điểm ấy di chuyển, cho đến khi Ngài yên nghỉ.
 
Đoạn này được Đức Baha’u’llah trích dẫn trong Kitab-i-Aqdas (¶137) và được Ngài xác nhận trong câu thánh thi cần chú giải này. Ngài cũng chỉ ra rằng hướng về Qiblih là “Điều đòi hỏi cố định khi đọc kinh cầu nguyện bắt buộc” (Vấn và Đáp 14 , Vấn và Đáp 67). Tuy nhiên, đối với các bài cầu nguyện và suy tưởng khác, cá nhân có thể nhìn về bất cứ hướng nào.

8. và khi Mặt trời Chân lý và Phát ngôn sẽ lặn hãy hướng mặt các ngươi về Địa điểm mà Chúng Ta chỉ định cho các ngươi ¶6
Đức Baha’u’llah phán dạy nơi an nghỉ của Ngài là Qiblih sau khi Ngài thăng thiên. Thánh Lăng Thiêng liêng nhất nằm tại Bahji, Akka. Đức Abdul -Baha mô tả địa điểm ấy là “Lăng rực sáng”, “nơi mà quanh đó Quần hội Thiên Thượng đang qui tụ”.

Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi dùng dụ ngôn về một cái cây hướng theo mặt trời để giải thích ý nghĩa tinh thần của việc hướng về Qiblih :
... giống như cái cây vươn về phía có ánh sáng mặt trời _ nơi mà nó nhận sự sống và sự tăng trưởng _ chúng ta cũng hướng tâm hồn về Đấng Biểu hiện của Thượng Đế, Đức Baha’u’llah, khi chúng ta cầu nguyện; ...chúng ta hướng mặt... về nơi di thể Ngài an nghỉ trên trái đất này như là biểu hiện của hành vi nội tâm.

9. Chúng Ta đã nêu chi tiết về sự cầu nguyện bắt buộc trong một Kinh bản khác. ¶8
Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc nguyên thủy “bởi những nguyên do Khôn sáng” đã được Đức Baha’u’llah mặc khải trong một Kinh bản riêng biệt (Vấn và Đáp 63). Bản Kinh ấy đã không được phổ biến cho các tín đồ khi Ngài còn sinh thời, đã được thay thế bằng ba Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc hiện được lưu dụng.

Không lâu sau khi Đức Baha’u’llah thăng thiên, nguyên bản Kinh này, cùng với một số Kinh bản khác, đã bị đánh cắp bởi Mahammad-Ali, Kẻ Phản ước đầu sỏ đối với Giao ước của Ngài.

10. Kinh Cầu nguyện cho Người qui tịch ¶8
Kinh cầu nguyện cho Người mệnh chung (xem một số Kinh bản bổ sung vào Kitab-i-Aqdas) là Kinh Baha’i Cầu nguyện Bắt buôc duy nhất đọc theo nghi thức tập thể, nghĩa là một người đọc trong khi mọi người hiện diện đứng im lặng (chú thích 19) Đức Baha’u’llah đã chỉ rõ rằng Kinh Cầu nguyện cho Người qui tịch chỉ bắt buộc khi người mệnh chung ở tuổi thành niên (Vấn và Đáp 70) rằng việc đọc kinh phải thực hiện trước khi chôn người qua đời và không cần phải hướng về Qiblih khi đọc Kinh này (Vấn và Đáp 85).

Những chi tiết khác liên quan đến Kinh Cầu nguyện cho Người qui tịch đã được tóm tắt trong phần Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV.A. 13 -14.

11. sáu bài Kinh riêng biệt đã được ban xuống bởi Thượng Đế, Đấng Mặc khải các Thánh thi ¶8
Các bài hợp thành Kinh Cầu nguyện cho Người qui tịch gồm có phần lặp lại sáu lần lời tụng “Allah-u-Abha” (Thượng Đế là Đấng Toàn vinh) mỗi lần lại được nối tiếp bởi sự lặp lại mười chín lần một trong sáu câu thánh thi được mặc khải riêng biệt. Những câu thánh thi này giống với những câu thánh thi trong Kinh Cầu nguyện cho Người qui tịch do Đức Bab mặc khải trong Kinh Bayan. Đức Baha’u’llah thêm phần khấn nguyện trước các đoạn này.

12. Lông thú không làm mất hiệu lực sự cầu nguyện của các ngươi, và tinh thần không bị cản trở bởi bất cứ vật gì khác, như là xương và các thứ tương tự. Các ngươi được tự do mặc áo da thú thuộc các giống như chồn, hải ly, sóc, và các giống vật khác ¶9
Trong một số những Tôn giáo xưa, việc mặc áo lông một vài loài thú hoặc mang một số đồ vật khác trên người sẽ làm việc cầu nguyện riêng mất hiệu lực. Ở đây Đức Baha’u’llah xác nhận điều Đức Bab công bố trong Kinh Bayan bằng tiếng Á-Rập rằng các vật ấy không làm mất hiệu lực của sự cầu nguyện riêng.

13. Chúng Ta đã truyền phán cho các ngươi cầu nguyện và giữ trai giới khi tới tuổi trưởng thành ¶10
Đức Bah’u’llah định nghĩa “tuổi trưởng thành liên quan tới các nhiệm vụ tôn giáo” là “mười lăm đối với người nam cũng như người nữ” (Vấn và Đáp 20). Muốn biết thêm chi tiết về thời gian giữ chay, hãy xem chú thích 25.

14. Ngài đã miễn điều này cho những người suy yếu vì bệnh tật hoặc vì tuổi tác ¶10
Việc miễn cho những người suy yếu vì bệnh tật hoặc vì tuổi tác về việc đọc Kinh Cầu nguyện Bắt buộc và giữ chay được giải thích trong phần Vấn và Đáp. Đức Baha’u’llah vạch rõ rằng “khi đau yếu thì không được phép thực hiện các nghĩa vụ này” (Vấn và Đáp 93). Trong phạm vi này, Ngài định nghĩa tuổi già là bảy mươi (Vấn và Đáp 74). Để trả lời câu hỏi này, Đức Shoghi Effendi giải rõ rằng những người đạt tới tuổi bảy mươi thì được miễn dù những người ấy có suy yếu hay không.

Việc miễn giữ chay cũng được dành cho những lớp người đặc biệt khác liệt kê trong phần Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV. B.5. Xem các chú thích 20, chú thích 30 , chú thích 31 để rộng đường thảo luận.

15. Thượng Đế đã cho phép các ngươi quì lạy trên bất cứ mặt bằng nào sạch sẽ, vì về mặt này Chúng Ta đã hủy bỏ sự hạn chế được thiết định trong Thánh kinh¶10
Những đòi hỏi về cầu nguyện trong các Tôn giáo trước thường gồm có sự quì lạy. Trong Kinh Bayan bằng tiếng Á rập, Đức Bab kêu gọi các tín đồ đặt trán trên các mặt phẳng bằng thủy tinh khi quì lạy. Trong Hồi giáo cũng có một số sự hạn chế đối với mặt phẳng cho phép người Hồi giáo quì lạy trên đó. Đức Baha’u’llah hủy bỏ các hạn chế ấy và chỉ nêu lên “bất cứ mặt phẳng nào sạch sẽ”.

16. Người nào không tìm được nước để tẩy rửa, có thể đọc năm lần những tiếng “Nhân danh Thượng Đế, Đấng Linh Khiết Nhất, Đấng Linh Khiết Nhất”, rồi tiếp tục cầu nguyện. ¶10
Người tín đồ phải tẩy rửa trước khi đọc Kinh cầu nguyện bắt buộc. Việc này gồm có rửa tay và rửa mặt. Nếu không có nước, thì theo qui định có thể đọc năm lần câu thánh thi mặc khải đặc biệt để thay thế. Xem chú thích 34 để biết tổng quát về việc tẩy rửa. Tiền lệ trong các Mặc khải xưa qui định thủ tục phải làm theo để thay thế khi không có nước cũng được tìm thấy trong Kinh Quran và Kinh Bayan bằng tiếng Á rập.

17. Trong những vùng có ngày dài và đêm dài thì thời gian được định theo đồng hồ và các dụng cụ tính giờ khác. ¶10
Điều này nói về những lãnh thổ ở cực nam hay cực bắc, ở đó ngày và đêm thay đổi rất lớn (Vấn và Đáp 64 , Vấn và Đáp 103). Điều này cũng áp dụng đối với việc giữ chay.

18. Chúng Ta đã bỏ qui định về việc đòi hỏi các ngươi phải đọc Kinh Cầu nguyện về các Dấu hiệu. ¶11
Kinh Cầu nguyện về các Dấu hiệu là một dạng Kinh đặc biệt Cầu nguyện bắt buộc của Hồi giáo đã được truyền ban để đọc vào những lúc xảy ra biến cố thiên nhiên, như động đất, nhật thực nguyệt thực và các biến cố tương tự, có thể tạo nên sự sợ hãi và được coi như là các dấu hiệu hoặc các hành động của Thượng Đế. Việc đọc kinh này đã được hủy bỏ. Thay vào đó người Baha’i có thể đọc: “Quyền ngự trị thuộc về Thượng Đế, Đấng Chúa của các giới hữu hình và vô hình, Đấng Chúa của tạo vật”, nhưng điều này không có tính bắt buộc (Vấn và Đáp 52).

19. Ngoại trừ Kinh cầu nguyện cho Người qui tịch, việc cầu kinh theo nghi thức tập thể đã bị bãi bỏ. ¶12
Sự cầu nguyện theo nghi thức tập thể, nghĩa là đọc Kinh Cầu nguyện bắt buộc theo những nghi thức đã định sẵn, chẳng hạn như việc cầu nguyện trong Đền thờ với sự điều khiển của một vị Imam theo truyền thống Hồi giáo, đã bị hủy bỏ trong Kỳ Cứu độ Baha’i. Kinh Cầu nguyện cho Người qui tịch (chú thích 10) là Kinh duy nhất cầu nguyện theo nghi thức tập thể được qui định trong luật Baha’i. Kinh ấy do một người có mặt tại chỗ đọc lên, trong khi tất cả những người khác đứng im lặng; người đọc không có vị trí đặc biệt nào cả. Tín chúng không phải hướng mặt về Qiblih (Vấn và Đáp 85).

Ba Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc hằng ngày mỗi cá nhân phải đọc riêng, chứ không phải đọc tập thể.

Không có sự qui định thể thức nào trong việc đọc nhiều Bản kinh Baha’i khác, và mọi người được tự do sử dụng các Bản kinh không bắt buộc ấy trong các cuộc họp hoặc riêng tư tùy thích. Về điều này, Đức Shoghi Effendi dạy rằng :
...dù các đạo hữu được để cho tự do làm theo sở thích, ...họ nên hết sức thận trọng để cho cách thức họ thực hiện không có tính chất quá xơ cứng, và rồi phát triển thành cơ chế. Đây là điểm mà các đạo hữu cần luôn luôn ghi nhớ, kẻo họ đi lệch khỏi con đường trong sáng được vạch ra trong Giáo lý.

20. Thượng Đế đã miễn cho các phụ nữ đang có kinh nguyệt việc đọc Kinh Cầu nguyện Bắt buộc và giữ chay. ¶13
Việc miễn Cầu nguyện bắt buộc và giữ chay được dành cho phụ nữ có kinh nguyệt, thay vào đó họ phải thực hiện tẩy rửa (chú thích 34), và từ trưa hôm trước tới trưa hôm sau đọc 95 lần câu kinh: “Vinh quang thay Thượng Đế, Đấng Chúa Huy hoàng và Mỹ lệ”. Qui định này đã có tiền lệ trong kinh Bayan bằng tiếng Á Rập, ở đó cũng cho phép như vậy.

Trong một số các Tôn giáo xưa, phụ nữ có kinh nguyệt bị xem như bất khiết trong nghi lễ và bị cấm tuân thủ các nghĩa vụ về cầu nguyện và giữ chay. Quan niệm về sự bất khiết trong nghi lễ đã được Đức Baha’u’llah bãi bỏ (chú thích 106).

Tòa Công lý Quốc tế giải rõ rằng những qui định trong Kitab-i-Aqdas đặc miễn một số nghĩa vụ và trách nhiệm, như thuật ngữ đã chỉ rõ, là miễn chứ không phải cấm. Bởi vậy, bất cứ người tín đồ nào cũng đều được tự do hưởng sự đặc miễn nếu người ấy muốn. Tuy nhiên, Tòa Công Lý khuyên rằng, khi quyết định nhận sự đặc miễn hay không, người tín đồ nên vận dụng sự khôn ngoan và hiểu rằng Đức Baha’u’llah ban cho những sự đặc miễn này vì lý do chính đáng.

Sự đặc miễn khỏi cầu nguyện bắt buộc theo qui định ban đầu đối với Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc gồm chín rakah, nay áp dụng cho ba Bản Kinh Cầu nguyện Bắt buộc thay vào chỗ Bản kinh ấy.

21. Khi du lịch, nếu các ngươi dừng lại và nghỉ ngơi ở nơi an toàn nào đó, các ngươi _ người nam cũng như người nữ _ hãy thực hiện việc lễ lạy nếu không đọc được Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc. ¶14
Việc miễn cầu nguyện bắt buộc được ban cho những ai thấy mình đang ở trong tình trạng không yên ổn khiến không thể đọc Kinh Cầu nguyện Bắt buộc. Việc đặc miễn được áp dụng khi ta đi đường cũng như ở nhà và nó tạo cách thay thế cho những Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc không đọc được vì những tình huống bất an này.

Đức Baha’u’llah đã dạy rõ rằng việc cầu nguyện bắt buộc “không thể bỏ ngang trong khi đi du lịch” nếu ta có thể tìm được một “chỗ an toàn” để thực hiện điều đó (Vấn và Đáp 58).

Các câu Vấn và Đáp 21, Vấn và Đáp 58, Vấn và Đáp 59, Vấn và Đáp 60, Vấn và Đáp 61 làm sáng tỏ hơn điều qui định này.

22. Sau khi hoàn thành việc lễ lạy, hãy ngồi tréo chân¶14
Thuật ngữ Á-rập “haykalut - tawhid”, được dịch ra đây là “tréo chân”, nghĩa là “tư thế thống nhất”. Theo truyền thống nó có ý nghĩa là ngồi kiết già.

23. Hãy nhớ: Thượng Đế đã biến tình yêu huyền nhiệm của Ta thành chìa khóa Kho báu ¶15
Trong pháp chánh truyền Hồi giáo có lời dạy nổi tiếng về Thượng Đế và tạo vật của Ngài:

 Ta là Kho báu Huyền nhiệm. Ta muốn được biết đến, vì thế Ta cho tạo vật hiện hữu để Ta được biết đến.

 Những nhắc nhở và ẩn dụ liên quan tới pháp chánh truyền này được thấy trong khắp các Thánh thư Baha’i. Chẳng hạn trong một Bản kinh cầu nguyện, Đức Baha’u’llah đã mặc khải:

 “Vinh quang thay danh Ngài, lạy Chúa, Đấng Thượng Đế của con! Con xin làm chứng rằng Ngài là Kho tàng huyền nhiệm cất giấu trong Bản thể vĩnh hằng của Ngài và là một sự Huyền bí khôn giải ẩn chứa chính trong Tôn chất của Ngài. Để khải lộ chính Ngài, Ngài đã tạo ra Đại thế giới và Tiểu thế giới, và đã chọn cho Con người đứng trên tất cả tạo vật của Ngài, và khiến con người thành dấu hiệu của cả hai thế giới này, lạy Ngài là Đấng Chúa của chúng con, Đấng Đại từ bi!”

 “Ngài đã nâng Con người lên để chiếm giữ ngôi cao của Ngài trước tất cả chúng dân trong tạo vật của Ngài. Ngài đã giúp Con người khải lộ những huyền nhiệm của Ngài, chiếu rọi bằng ánh sáng linh ứng của Ngài và bằng Mặc khải của Ngài, để biểu hiện các danh của Ngài và các đặc tính của Ngài. Qua Con người, Ngài đã tô điểm lời tựa quyển kinh sáng tạo của Ngài, lạy Ngài là Đấng Cai quản cả vũ trụ mà Ngài đã tạo thành!”
 (Kinh Cầu nguyện và Suy tưởng của Đức Baha’u’llah, XXXVIII).

Trong Ẩn ngôn, Ngài cũng đã phán:
 Hỡi Con của Loài Người!
 “Ta yêu thích sự tạo sinh ra ngươi, do đó Ta đã tạo ra ngươi. Vậy hãy kính yêu Ta, để Ta nhìn nhận ngươi và ban cho tâm hồn ngươi tinh thần của sự sống.”

 Trong bài bình giảng về lời dạy cổ truyền nêu trên, Đức Abdul-Baha đã viết:
 Hỡi Kẻ lữ hành trên đường của Đấng Kính yêu! Ngươi hãy biết rằng mục đích chính của lời sấm truyền Thiêng liêng này là nhắc tới những giai đoạn ẩn mình và hiển lộ của Thượng Đế trong các Đấng Hiện thân của Chân lý, các Đấng làm chốn Hừng đông Bản thể Toàn vinh của Ngài. Ví như trước khi ngọn lửa của thứ Lửa không hề tắt cháy sáng và hiển hiện, Lửa ấy vẫn tự tồn trong bản thể ẩn tàng của các Đấng Biểu hiện hoàn vũ, và đây là giai đoạn của “Kho báu Huyền nhiệm”. Và khi Cây chúc phúc tự khơi lên trong tự thể, và Lửa Thiêng ấy tự đốt cháy bởi tự tánh trong tự tánh, đây là giai đoạn “Ta muốn được biết đến”. Và khi Lửa ấy chiếu rọi từ Chân trời vũ trụ với vô số các Thánh Danh và Đặc Tính trên các thế giới giả tạm và vô sở trú, điều này làm xuất hiện một tạo vật mới và kỳ diệu phù hợp với giai đoạn “Thế nên Ta khiến tạo vật hiện hữu”. Và khi những linh hồn thoát tục đã xé bỏ những màn che của mọi ràng buộc thế gian và điều kiện phàm tục, và hối hả tiến tới giai đoạn ngắm nhìn vẻ mỹ lệ của sự Hiện diện Thiêng liêng, và được vinh dự nhận biết Đấng Biểu hiện và có thể chứng kiến vẻ huy hoàng của Dấu hiệu Lớn nhất của Thượng Đế ở trong lòng họ, thì mục đích của tạo vật, là nhận biết Đấng Chân lý Vĩnh cửu, sẽ thành hiển nhiên.

24. Hỡi Ngòi bút của Đấng Tối Thượng! ¶16
“Ngòi bút của Đấng Tối Thượng”, “Ngòi bút Tối cao”, và “Ngòi bút Cao cả Nhất” là nhắc tới Đức Baha’u’llah, minh họa chức năng của Ngài là Đấng Mặc khải Lời của Thượng Đế.

25. Chúng Ta đã truyền phán cho các ngươi phải giữ một thời kỳ trai giới ngắn ngủi ¶16
Trai giới và cầu nguyện bắt buộc hợp thành hai trụ cột nâng đỡ Luật thiên khải của Thượng Đế. Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah xác nhận rằng Ngài đã mặc khải luật giữ chay và cầu nguyện bắt buộc là để nhờ đó các tín đồ được về gần với Thượng Đế.

Đức Shoghi Effendi chỉ ra rằng thời kỳ trai giới, gồm việc nhịn ăn nhịn uống hoàn toàn từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, là:

“Thời kỳ chủ yếu dành cho việc suy tưởng và cầu nguyện, cho sự hồi phục tâm linh, trong thời gian đó người tín đồ phải cố gắng thực hiện những sự tu dưỡng cần thiết trong đời sống nội tâm, làm tươi mát và tăng cường những sức mạnh tâm linh tiềm tàng trong tâm hồn. Bởi vậy, ý nghĩa và mục đích của trai giới có tính chất căn bản thuộc tinh thần. Trai giới có tính cách tượng trưng, và là sự nhắc nhở tiết chế những ham muốn thuộc xác thịt và ích kỷ”.

Việc trai giới được thiết định cho tất cả tín đồ khi họ vừa tới tuổi mười lăm cho đến khi họ được bảy mươi tuổi.

Sự tóm tắt về các điều khoản chi tiết liên quan tới luật trai giới và về sự đặc miễn dành cho một số loại người được gồm trong phần Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV. B. 1- 6. Để hiểu rõ hơn về các trường hợp miễn trai giới, hãy xem các chú thích 14, chú thích 20, chú thích 30 , chú thích 31.

Thời gian mười chín ngày trai giới trùng hợp với tháng Ala trong Lịch Baha’i, thường kể từ 2 đến hết ngày 20 tháng 3, ngay sau khi chấm dứt các Dư nhật (xem các chú thích 27 và 147), và ngay sau đó là Thánh Lễ Naw-Ruz (chú thích 26).

26. và chỉ định vào cuối kỳ chay ấy cái Tết Naw-Ruz làm Thánh Lễ ¶16
Đức Bab đưa ra một niên lịch mới, đó là lịch Badi hoặc lịch Baha’i (xem các chú thích 27 , chú thích 147). Theo niên lịch này, thì một ngày là thời gian từ mặt trời lặn tới mặt trời lặn. Trong Kinh Bayan, Đức Bab ấn định tháng Ala là tháng chay, chỉ dụ rằng ngày Naw-Ruz đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ chay ấy, và chỉ định Naw-Ruz là Ngày của Thượng Đế. Đức Baha’u’llah công nhận lịch Badi trong đó Naw-Ruz được chỉ định là Thánh Lễ.

Naw-Ruz là ngày thứ nhất của năm mới. Nó trùng với Xuân phân ở bắc bán cầu, thường rơi vào ngày 21 tháng ba. Đức Baha’u’llah giải thích rằng ngày lễ này phải cử hành vào ngày mà mặt trời đi vào chòm sao Bạch dương (tức là Xuân phân), dù rằng điều này xảy ra không quá một phút trước khi mặt trời lặn (Vấn và Đáp 35).

Như thế Naw-Ruz có thể rơi vào ngày 20, 21 hoặc 22 tháng ba, tùy thời gian Xuân phân.

Đức Baha’u’llah đã để lại chi tiết của nhiều điều luật cho Tòa Công lý Quốc tế bổ sung. Trong các luật này, có những vấn đề liên hệ đến Niên lịch Baha’i. Đức Giáo hộ nêu lên rằng việc thực thi trên toàn thế giới luật liên hệ đến việc tính thời gian Naw-Ruz sẽ đòi hỏi chọn lựa mốc địa điểm riêng biệt trên trái đất dùng làm chuẩn để xác định thời gian xuân phân. Ngài cũng chỉ ra rằng việc chọn địa điểm này để tùy Tòa Công lý Quốc tế quyết định.

27. Hãy đặt những ngày dư của các tháng trước tháng chay ¶16
Lịch Badi căn cứ trên dương lịch 365 ngày, 5 giờ và trên 50 phút. Năm gồm 19 tháng mỗi tháng 19 ngày (tức là 361 ngày), với bốn ngày dư (hoặc năm ngày trong năm nhuận). Đức Bab không xác định cụ thể nơi đặt các dư nhật trong lịch mới. Kinh Kitab-i-Aqdas giải quyết vấn đề này bằng cách chỉ định cho các ngày “dư” một vị trí cố định trong lịch ở ngay trước tháng Ala, là thời kỳ trai giới. Muốn biết thêm chi tiết xin xem đoạn về niên lịch Baha’i trong sách The Baha’i World (Thế giới Baha’i), bộ XVIII.

28. Chúng Ta đã truyền phán rằng những ngày này... sẽ là các biểu hiện của mẫu tự Ha ¶16
Được gọi là Ayyam-i-Ha (những Ngày Ha), các Dư nhật có sự phân biệt là được kể liên hệ với “mẫu tự Ha”. Giá trị bằng số abjad của mẫu tự Á-rập này là năm, trùng hợp với số tiềm tàng của các dư nhật.

Mẫu tự Ha được gán cho nhiều ý nghĩa tâm linh trong các Thánh thư, trong đó có nghĩa là biểu tượng của Bản thể Thượng Đế.

29. những ngày để hiến tặng này đứng trước mùa tiết chế ¶16
Đức Baha’u’llah đã truyền cho các tín đồ của Ngài dành những ngày này cho việc lễ hội, vui chơi và làm việc từ thiện. Trong một bức thư viết theo lệnh Đức Shoghi Effendi có lời giải thích rằng “các dư nhật được tách riêng để đãi đằng, tặng quà v.v...”.

30. Người du lịch... không phải giữ Trai giới ¶16
Thời gian tối thiểu của cuộc hành trình cho người tín đồ được miễn trai giới đã được Đức Baha’u’llah xác định (Vấn và Đáp 22 , Vấn và Đáp 75). Các chi tiết về điều khoản này đã được tóm tắt trong Khái yếu và Pháp điển, phần IV. B. 5. a. 1-V.

Đức Shoghi Effendi giải rõ rằng trong khi những người du lịch được miễn trai giới, họ được tự do giữ chay nếu họ muốn. Ngài cũng chỉ ra rằng việc miễn trai giới áp dụng cho suốt thời gian du lịch, chứ không phải chỉ trong những giờ ở trên xe lửa hoặc xe hơi v.v...

31. Người du lịch, kẻ ốm đau, những người mang thai hoặc cho con bú, đều không phải giữ Trai giới; họ được Thượng Đế đặc miễn như là dấu hiệu hồng ân của Ngài. ¶16
Việc miễn trai giới được dành cho những người ốm đau hoặc cao niên (chú thích 14), những phụ nữ có kinh nguyệt (chú thích 20), những người du lịch (chú thích 30) và các phụ nữ có thai và những người nuôi con mọn. Sự đặc miễn này cũng mở rộng ra cho những người lao động nặng, là những người đồng thời cũng được dạy là “nên tỏ lòng tôn kính đối với luật của Thượng Đế và đối với vị trí tôn quí của Trai giới” bằng cách ăn uống “đạm bạc và riêng tư” (Vấn và Đáp 76). Đức Shoghi Effendi đã chỉ ra rằng các loại công việc khiến người ta được miễn Trai giới sẽ do Tòa Công lý Quốc tế xác định.

32. Hãy nhịn hẳn thức ăn và thức uống từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn ¶17
Điều này liên hệ tới thời kỳ trai giới. Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Abdul-Baha, sau khi nêu rõ rằng trai giới gồm có việc nhịn ăn và nhịn uống còn chỉ rõ thêm rằng hút thuốc lá là một dạng “uống”. Động từ “uống” trong tiếng Á-rập cũng có nghĩa là hút.

33. Đã có lệnh truyền rằng mỗi tín đồ của Thượng Đế... mỗi ngày... nhắc lại “Allah-u-Abha” chín mươi lăm lần. ¶18
“Allah-u-Abha” là một cụm từ Á-rập có nghĩa là “Thượng Đế Đấng Toàn vinh”. Đó là một dạng Tối Đại Danh của Thượng Đế (chú thích 137). Trong Hồi giáo có truyền thống cho rằng trong nhiều Danh của Thượng Đế thì có một Danh Tối Đại; tuy nhiên, thực thể Tối Đại Danh ấy còn ẩn giấu. Đức Baha’u’llah đã xác nhận rằng Tối Đại Danh là “Baha”.

Những biến thái của từ Baha cũng được xem là Tối Đại Danh. Thư ký của Đức Shoghi Effendi viết theo lệnh Ngài đã giải thích rằng:
Tối Đại Danh là danh của Đức Baha’u’llah. “Ya Baha’ul-Abha” là một lời yêu cầu có nghĩa là: “Lạy Ngài là Đấng Vinh quang trên mọi Vinh quang”. “Allah-u-Abha” là lời chào có nghĩa là “Thượng Đế Đấng Toàn Vinh”. Cả hai đều nhắc tới Đức Baha’u’llah. Do đó, Tối Đại Danh có nghĩa rằng Đức Baha’u’llah đã xuất hiện trong Tối Đại Danh của Thượng Đế, nói cách khác, Ngài tức là Đấng Biểu hiện tối cao của Thượng Đế.

Lời chào Allah-u-Abha được chấp dụng trong thời gian Đức Baha’u’llah bị lưu đày ở Adrianople.

Trước khi nhắc lại “Allah-u-Abha” chín mươi lăm lần thì cần phải thực hiện sự tẩy rửa (chú thích 34).

34. Các ngươi cũng thực hiện... sự tẩy rửa như thế để đọc Kinh Cầu nguyện Bắt buộc ¶18
Việc tẩy rửa đặc biệt liên hệ với một số kinh cầu nguyện. Việc tẩy rửa phải thực hiện trước ba Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc, trước khi đọc hằng ngày chín mươi lăm lần “Allah-u-Abha”, và trước khi đọc câu kinh thay thế cho việc trai giới và cầu nguyện bắt buộc của phụ nữ có kinh nguyệt (chú thích 20).

Việc tẩy rửa theo qui định gồm có rửa tay và rửa mặt chuẩn bị cầu nguyện. Trong trường hợp Bản kinh Cầu nguyện Bắt buộc dài trung bình, việc tẩy rửa đi kèm với việc đọc một số câu kinh (xem phần - Một số Văn bản do Đức Baha’u’llah Mặc khải bổ sung vào Kitab-i-Aqdas).

Việc tẩy rửa ấy có ý nghĩa trội hơn sự rửa ráy bình thường có thể thấy trong sự kiện là ngay cả khi người ta đã tắm trước lúc đọc Kinh Cầu nguyện Bắt buộc, thì vẫn phải thực hiện việc tẩy rửa (Vấn và Đáp 18).

Khi không có nước để tẩy rửa, phải đọc lại năm lần một câu kinh theo qui định (chú thích 16), và điều khoản này được mở rộng ra cho cả những người mà việc dùng nước sẽ gây hại về vật chất (Vấn và Đáp 51).

Những điều khoản chi tiết về luật tẩy rửa được ghi trong Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV-A. 10. a-g. cũng như trong Vấn và Đáp 51, Vấn và Đáp 62, Vấn và Đáp 66, Vấn và Đáp 77 , Vấn và Đáp 86.

35. Các ngươi đã được cấm phạm vào tội sát nhân ¶19
Việc cấm tước đoạt mạng sống của người khác được Đức Baha’u’llah nhắc lại trong đoạn 73 Kitab-i-Aqdas. Hình phạt đã được qui định đối với tội chủ ý sát nhân (chú thích 86). Trong trường hợp giết người, cần phải trả một khoản bồi thường nhất định cho gia đình người chết (xem Kitab-i-Aqdas ¶188).

36. hoặc tội ngoại tình ¶19
Từ Á-rập “zina” được dịch ở đây là “ngoại tình” chỉ cả tội gian dâm và ngoại tình. Nó không những áp dụng cho những quan hệ tình dục giữa một người có gia đình với một người khác không phải là vợ hoặc chồng mình nhưng còn áp dụng đối với mọi sự quan hệ tình dục ngoài hôn nhân nói chung. Một dạng “zina” khác là “hiếp dâm”. Đức Baha’u’llah chỉ qui định hình phạt cho tội gian dâm (chú thích 77); những hình phạt cho các tội tà dâm khác được để tùy Tòa Công lý Quốc tế quyết định.

37. tội nói hành hoặc vu khống ¶19
Nói hành, phỉ báng và bới lỗi người khác là những điều bị Đức Baha’u’llah liên tục lên án. Trong An ngôn, Ngài nêu rõ rằng: “Hỡi con của sinh tồn! Làm sao ngươi có thể quên được những lỗi lầm của ngươi mà xăm lo đến lỗi lầm của kẻ khác? Kẻ nào hành động như thế sẽ chịu sự trừng phạt của Ta”. Ngài lại phán: “Hỡi con của loài người! Đừng đôi mách những tội lỗi của người khác ngày nào chính ngươi vẫn còn là kẻ phạm tội. Nếu ngươi không tuân lời giới răn này, thì ngươi sẽ bị nguyền rủa và Ta sẽ chứng cho điều đó”. Lời khuyên này còn được nhắc đến trong tác phẩm cuối cùng của Ngài, “Kinh Giao ước”: “Quả thực! Ta đã phán là lưỡi được tạo nên để thốt ra điều thiện, đừng làm ô uế nó bằng lời ác. Thượng Đế tha thứ những gì đã qua. Từ nay phải thốt ra điều gì đúng và thích đáng, và phải kềm chế sự vu khống, nói xấu và bất cứ điều gì gây buồn phiền cho con người”.

38. Chúng Ta đã chia quyền thừa kế cho bảy hạng người ¶20
Luật Baha’i về thừa kế chỉ áp dụng trong trường hợp không có chúc thư, nghĩa là, khi cá nhân chết mà không để lại di chúc. Trong Kitab-i-Aqdas (¶109), Đức Baha’u’llah dạy mọi người tín đồ phải viết di chúc. Ở nơi khác Ngài nêu rõ rằng cá nhân có trọn quyền đối với tài sản của mình, và tự do xác định cách chia tài sản của mình và chỉ định trong chúc thư, những người sẽ thừa kế bất kể là trong hay ngoài Baha’i (Vấn và Đáp 69). Về phương diện này, một bức thư viết theo lệnh Đức Shoghi Effendi đã giải thích rằng:

... dù một người Baha’i được phép định đoạt trong chúc thư của mình việc phân chia tài sản theo sở thích riêng, nhưng lương tri và đạo đức đòi hỏi người ấy, trong khi viết chúc thư, phải luôn luôn nhớ tới sự cần thiết tuân giữ nguyên lý của Đức Baha’u’llah về chức năng xã hội của tài sản, và sự cần thiết tiếp theo là tránh tích tụ quá đáng và tập trung vào một vài cá nhân hoặc một vài nhóm cá nhân.

Câu kinh này trong Kitab-i- Aqdas mở đầu một đoạn văn dài trong đó Đức Baha’u’llah giải rõ luật thừa kế Baha’i.

Khi đọc đoạn này ta nên nhớ rằng luật này được lập với hàm ý rằng người chết là một người đàn ông; các điều khoản này cũng được áp dụng khi người chết là đàn bà, với sự điều chỉnh chi tiết thích đáng.

Hệ thống thừa kế qui định việc phân chia gia sản của người chết cho bảy loại người thừa kế (con cái, vợ, cha, mẹ, anh em, chị em, và các thầy cô) căn cứ trên các điều khoản do Đức Bab đề ra trong Kinh Bayan. Những nét chính của luật Baha’i về thừa kế trong trường hợp không có di chúc là:

-1. Nếu người chết là người cha và gia sản của người gồm có nhà riêng, thì nhà đó chuyển cho con trai trưởng (Vấn và Đáp 34).
-2. Nếu người chết không có con trai, hai phần ba ngôi nhà chuyển cho các con gái và một phần ba ngôi nhà chuyển cho Tòa Công lý (Vấn và Đáp 41 , Vấn và Đáp 72). Xem chú thích 42 về các cấp của cơ cấu Tòa Công lý mà luật này ứng dụng vào (chú thích 44).
-3. Phần còn lại của gia sản chia cho bảy loại người thừa kế. Còn chi tiết về số cổ phần mỗi nhóm được nhận thì hãy xem Vấn và Đáp 5 và Khái yếu và Pháp điển phần IV. C. 3. a.
-4. Trong trường hợp mà mỗi loại hưởng thừa kế có nhiều người, thì số cổ phần của loại đó chia đều cho những người đó, bất kể họ là nam hay nữ.
-5. Trong trường hợp không có con, phần chia của các con chuyển cho Tòa Công lý (Vấn và Đáp 7, Vấn và Đáp 41).
-6. Nếu người chết có con, nhưng một số hoặc tất cả các loại người thừa kế khác không hiện hữu, thì hai phần ba số cổ phần của các loại được chia cho con và một phần ba chuyển cho Tòa Công lý (Vấn và Đáp 7).
-7. Nếu không có loại người thừa kế nào tồn tại cả, thì hai phần ba gia sản chuyển cho các cháu trai, các cháu gái của người chết. Nếu các cháu không hiện hữu, thì các phần đó chia cho các cô dì, các chú bác cậu; nếu những người này không còn hiện hữu, thì chia cho các con trai và con gái của họ. Trong bất cứ trường hợp nào, số một phần ba còn lại cũng chuyển cho Tòa Công lý.
-8. Nếu một người không lưu lại một ai trong các loại người thừa kế nêu trên, thì toàn bộ gia sản chuyển cho Tòa Công lý.
-9. Đức Baha’u’llah nêu rõ rằng những người không Baha’i không có quyền hưởng thừa kế của thân nhân hoặc cha mẹ Baha’i (Vấn và Đáp 34). Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi chỉ ra rằng sự hạn chế này áp dụng “chỉ trong trường hợp khi người Baha’i chết mà không để lại chúc thư, và khi, vì không có chúc thư tài sản của người ấy phải chia theo các qui định trong Kinh Kitab-i-Aqdas. Trái lại, người Baha’i được tự do lưu lại tài sản cho bất cứ ai, bất kể tôn giáo nào, tuy nhiên người ấy phải để lại chúc thư nêu rõ ý muốn của mình”. Vì vậy, người Baha’i luôn luôn có thể cung cấp cho người hôn phối, con cái, thân nhân ngoài Baha’i bằng cách để lại chúc thư.

Các chi tiết khác liên quan đến luật thừa kế được tóm tắt trong Khái yếu và Pháp điển, phần IV. C. 3. a-o.

39. cho anh em trai, năm phần... cho chị em gái, bốn phần ¶20
Phần Vấn và Đáp khai triển các điều khoản về luật này liên hệ tới các cổ phần phân bố cho các anh em trai và chị em gái của người chết. Nếu anh hay chị có cùng cha với người chết, người này sẽ hưởng trọn phần phân bố cho mình. Tuy nhiên, nếu người anh hay chị không có cùng cha thì người này chỉ hưởng được hai phần ba số cổ phần được phân bố, và một phần ba còn lại chuyển cho Tòa Công lý (Vấn và Đáp 6). Ngoài ra, trong trường hợp người chết có đầy đủ anh em ruột thì các anh em và chị em con riêng của mẹ không được hưởng thừa kế (Vấn và Đáp 53). Dĩ nhiên, những anh em ghẻ và chị em ghẻ được hưởng thừa kế trong tài sản của cha ruột họ.

40. các thầy cô giáo ¶20
Trong một Kinh bản, Đức Abdul-Baha so sánh những người dự vào việc giáo dục tâm linh cho cháu bé với “người cha tâm linh” là người “ban đời sống vĩnh cửu cho con mình”. Ngài giải thích rằng đây là lý do tại sao “các thầy cô được kể là người thừa kế” trong “Luật pháp của Thượng Đế”.

Đức Baha’u’llah định rõ những điều kiện khiến thầy cô được hưởng quyền thừa kế và số cổ phần mà thầy hoặc cô được nhận (Vấn và Đáp 33).

41. Khi Chúng Ta nghe tiếng gào khóc của trẻ em chưa sanh, Chúng Ta đã tăng gấp đôi phần của con cái và giảm bớt phần của những người khác. ¶20
Trong luật về thừa kế của Đức Bab các con của người chết được chia cho chín phần gồm 540 cổ phần. Sự phân bổ này gần bằng một phần tư toàn bộ tài sản. Đức Baha’u’llah tăng gấp đôi phần phân bổ gồm 1080 cổ phần, và giảm phần phân bổ cho sáu loại người thừa kế kia. Ngài cũng nêu bật chủ tâm chính xác của câu thánh thi này và các ứng dụng của nó trong việc phân chia phần thừa kế (Vấn và Đáp 5).

42. Toà công lý ¶21
 Khi nhắc tới Toà Công lý trong Kitab-i-Aqdas, Đức Baha’u’llah không luôn luôn phân biệt rõ ràng giữa Toà Công lý Quốc tế và Toà Công lý Địa phương, cả hai cơ cấu đó đều được truyền phán trong Thánh kinh. Ngài thường nhắc một cách giản dị là Toà Công lý, để ngỏ cho sự minh giải sau này về cấp hoặc các cấp nào đó trong toàn bộ cơ cấu mà mỗi điều luật sẽ áp dụng.

 Trong một Kinh bản liệt kê nguồn thu của Quỹ địa phương, Đức Abdul-Baha có kể tới những khoản thừa kế mà không có người thừa hưởng, như thế cho thấy rằng Toà Công lý được nêu trong các đoạn này của Kinh Kitab-i-Aqdas về thừa kế là Toà Công lý Địa phương.

43. Nếu người quá cố có con cái, nhưng không có những hạng người thừa kế khác ¶22
 Đức Baha’u’llah giải rõ rằng: “Qui định này được áp dụng trong cả trường hợp chung và riêng, nghĩa là khi không có những người thừa kế thuộc các loại sau, thì hai phần ba của họ chuyển cho con cái và một phần ba còn lại chuyển cho Toà Công lý” (Vấn và Đáp 7).

44. Chúng Ta đã qui định nhà ở và y phục riêng của người quá cố được chuyển cho con trai chứ không phải cho con gái hoặc cho những người thừa kế khác. ¶25
 Trong một Kinh bản, Đức Abdul-Baha chỉ ra rằng nhà ở và y phục riêng của người quá cố thuộc về phái nam. Các thứ ấy chuyển cho trưởng nam và khi không có trưởng nam thì các thứ ấy chuyển cho con trai thứ, và vân vân. Ngài giải thích rằng điều khoản này thể hiện luật về chế độ con trưởng, là luật hằng được lưu truyền trong Luật pháp của Thượng Đế. Trong một Kinh bản gửi cho một tín đồ của Chánh Đạo ở Ba-tư, Ngài viết: “Trong mọi Kỳ Cứu độ Thiêng liêng người con trưởng đã được ban cho những biệt đãi phi thường. Ngay cả cương vị tiên tri cũng thuộc quyền thừa kế của người này”. Tuy nhiên, kèm theo những biệt đãi dành cho con trưởng cũng có những nghĩa vụ. Chẳng hạn như, người này có trách nhiệm đạo lý, vì cớ Thượng Đế, là phụng dưỡng mẹ và cũng chăm lo cho các nhu cầu của những người thừa kế khác.

 Đức Baha’u’llah minh giải các phương diện của phần luật thừa kế này. Ngài chỉ định rõ rằng nếu có trên một nhà ở, thì ngôi nhà chính và quan trọng nhất truyền cho trưởng nam. Các nhà còn lại, cùng với các vật sở hữu khác của người chết, sẽ phải chia cho tất cả các hạng người thừa kế (Vấn và Đáp 34), và Ngài chỉ ra rằng khi không có con trai, thì hai phần ba ngôi nhà chính và y phục riêng của người cha quá cố sẽ chuyển cho con gái và một phần ba cho Toà Công lý (Vấn và Đáp 72). Ngoài ra, khi người quá cố là một phụ nữ, Đức Baha’u’llah dạy rằng tất cả những y phục người ấy đã dùng được chia đều cho các con gái. Những quần áo người ấy chưa dùng, nữ trang và tài sản phải được chia cho các hạng người thừa kế, quần áo cũ cũng chia nếu người ấy không có con gái (Vấn và Đáp 37).

45. Nếu con trai người quá cố đã qua đời vào lúc sinh thời của người cha và có để lại con cái, thì các cháu ấy sẽ thừa hưỏng phần của cha mình ¶26
 Phương diện này của luật chỉ áp dụng trong trường hợp người con trai chết trước cha mẹ. Nếu con gái của người quá cố đã qua đời và để lại con cái, thì phần của người con gái này sẽ được chia theo bảy loại người đã nêu trong Thánh kinh Thiêng liêng Nhất (Vấn và Đáp 54).

46. Nếu người quá cố để lại con cái vị thành niên, thì phần thừa kế của các cháu phải được uỷ thác cho một cá nhân đáng tin cậy ¶27
 Từ “amin” dịch trong đoạn này là “người đáng tin cậy” và “người thụ ủy”, nguyên trong tiếng Á-rập có phạm vi ý nghĩa rất rộng, chủ yếu liên hệ với sự đáng tin, nhưng cũng chỉ nhiều đức tính như sự tin cậy, trung thành, thành tín, ngay thẳng, lương thiện, và vân vân. Dùng trong thuật ngữ pháp lý “amin” chỉ nhiều thứ, trong đó có người thụ ủy, người bảo lãnh, người gìn giữ, người giám hộ, người trông coi.

47. Việc phân chia gia sản chỉ được thực hiện sau khi đã trả khoản Huququllah, đã thanh toán các món nợ, các chi phí tang lễ và mai táng đã trả xong ¶28
 Đức Baha’u’llah nêu rõ rằng thứ tự ưu tiên cho việc trả các khoản chi tiêu này là thứ nhất chi phí tang lễ và mai táng, rồi đến các khoản nợ của người quá cố, rồi đến Huququllah (chú thích 125) (Vấn và Đáp 9). Ngài cũng dạy cụ thể rằng khi áp dụng việc thanh toán này, phải trả trước hết từ các tài sản còn lại, và sau đó nếu số này không đủ, thì mới trả từ nhà ở và quần áo riêng của người quá cố (Vấn và Đáp 80).

48. Đây là tri thức huyền nhiệm sẽ không bao giờ thay đổi, vì nó khởi sự với con số chín ¶29
 Trong kinh Bayan bằng tiếng Á-rập, Đức Bab mô tả luật thừa kế của Ngài là “ Phù hợp với tri thức huyền nhiệm trong Thánh kinh của Thượng Đế _ một tri thức sẽ không bao giờ thay đổi hoặc bị thay thế”. Ngài cũng dạy rằng những con số dựa vào đó việc phân chia di sản thực hiện được phú cho một ý nghĩa nhằm giúp vào việc nhận biết Đấng mà Thượng Đế sẽ biểu hiện.

Số “chín” nêu ra ở đây được biểu trưng trong nguyên bản tiếng Á-rập bằng mẫu tự “Ta”, có giá trị tương đương trong hệ thống biểu tượng Abjad (xem mục Danh từ chuyên môn). Đó là yếu tố thứ nhất trong việc phân chia di sản theo ý Đức Bab, khi Ngài ấn định “Chín phần” là phần chia cho con cái. Ý nghĩa của số chín là ở chỗ nó là con số tương đương với Tối Đại Danh “Baha”, được ngụ ý trong phần sau của câu thánh thi này là “Danh ẩn tàng và hiển lộ, bất khả xâm phạm và cao cả diệu vợi” (Xem thêm chú thích 33).

49. Đấng Chúa đã truyền phán rằng tại mỗi Thành phố phải thành lập một Toà Công lý ¶30
 Cơ cấu Toà Công lý gồm những hội đồng công cử hoạt động ở các cấp địa phương, quốc gia và quốc tế của xã hội. Đức Baha’u’llah đã thiết định Toà Công lý Quốc tế và các Toà Công lý Địa phương trong Kitab-i-Aqdas. Đức Abdul-Baha, trong Chúc thư và Giao ước của Ngài, đã cho phép thành lập Toà Công lý Đệ nhị cấp (Cấp Quốc gia hoặc vùng) và nêu rõ phương pháp tiến hành để bầu cử Toà Công lý Quốc tế.

Trong câu Thánh thi nêu trên, cái được nhắc tới là Toà Công lý Địa phương, một cơ cấu được bầu ở một địa phương khi ở đó có chín hoặc hơn chín tín đồ thường trú tuổi thành niên. Về mục đích này, định nghĩa tuổi thành niên đã được Đức Giáo hộ tạm ấn định là 21, Ngài có nêu rõ rằng sau này Toà Công lý Quốc tế có quyền thay đổi.

Hiện nay, các Toà Công lý Địa phương và Đệ Nhị Cấp, được gọi là Hội đồng Tinh thần Địa phương và Hội đồng Tinh thần Quốc gia. Đức Shoghi-Effendi đã chỉ ra rằng đây là một “cách gọi tạm thời” mà,

... khi vị trí và mục đích của Chánh Đạo được hiểu đúng hơn và nhận thức đầy đủ hơn, thì sẽ lần hồi được thay thế bằng danh xưng vĩnh viễn và xứng hợp hơn là Toà Công lý. Các Hội đồng Tinh thần ngày nay không những sẽ đổi dạng trong tương lai, mà còn gia thêm vào các chức năng hiện nay những quyền hạn, nhiệm vụ và điều kiện cần thiết cho sự nhận biết nền Chánh Đạo của Đức Baha’u’llah, không phải chỉ là một trong những hệ thống tôn giáo được nhìn nhận trên thế giới, nhưng còn là một Quốc giáo với Uy quyền tối Thượng độc lập.

50. con số Baha ¶30
 Số biểu tượng abjad của “Baha” là chín. Toà Công lý Quốc tế, các Hội Đồng Tinh thần Quốc gia và Địa phương hiện nay mỗi cơ cấu có chín uỷ viên, đó là số tối thiểu do Đức Baha’u’llah qui định.

51. Họ phải trở nên như những người thụ uỷ của Đấng Khoan dung giữa loài người ¶30
 Nhiệm vụ và quyền lực tổng quát của Toà Công lý Quốc tế, của các Hội đồng Tinh thần Quốc gia và các Hội đồng Tinh thần Địa phương, và các phẩm cách của các uỷ viên được nêu trong các Thánh thư của Đức Baha’u’llah và Đức Abdul-Baha, trong những bức thư của Đức Shoghi-Effendi, và trong những điều minh giải của Toà Công lý Quốc tế. Những chức năng chính của các cơ cấu này đã được nêu rõ trong Hiến chương Toà Công lý Quốc tế, và trong Hiến chương của các Hội đồng Tinh thần Quốc gia và Địa phương.

52. hội ý với nhau ¶30
 Đức Baha’u’llah đã thiết lập phép hội ý như là một trong những nguyên lý căn bản của Chánh Đạo Ngài và đã khuyên các tín đồ “hội ý với nhau trong mọi vấn đề”. Ngài mô tả phép hội ý là “ngọn đèn hướng dẫn chỉ đường” và là “người ban bố sự thức ngộ”. Đức Shoghi Effendi nêu rõ rằng “nguyên lý hội ý...hợp thành một trong các điều luật căn bản” của nền Quản trị Baha’i.

 Trong phần Vấn và Đáp 99, Đức Baha’u’llah đã nêu rõ cách hội ý và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đạt tới nhất trí trong việc quyết định, nếu không được thế thì quyết định của đa số vẫn thắng. Toà Công lý Quốc tế giải rõ rằng sự hướng dẫn về phép hội ý này đã được mặc khải trước khi thành lập các Hội đồng Tinh thần và là lời giải đáp cho một câu hỏi về giáo lý Baha’i đối với phép hội ý. Toà Công lý xác nhận rằng sự ra đời của các Hội đồng Tinh thần, mà các đạo hữu có thể luôn luôn hướng về đó để được giúp đỡ, không hề có ý cấm các đạo hữu tuân theo thủ tục đã nêu trong phần Vấn và Đáp. Nếu các đạo hữu muốn, họ có thể dùng cách này khi họ cần hội ý về những vấn đề riêng tư.

53. Các ngươi hãy xây lên những đền thờ ở khắp các nước ¶31
 Đền thờ Baha’i được dành cho việc ca ngợi Thượng Đế. Đền thờ là toà kiến trúc trung tâm của Mashriqul-Adhkar (Chốn hừng đông của sự ngợi ca Thượng Đế), là một khu tổng hợp, như được biểu lộ trong tương lai, ngoài Đền thờ sẽ còn gồm một số tòa kiến trúc phụ dành cho các công trình khoa học, giáo dục, từ thiện, xã hội. Đức Abdul-Baha mô tả Mashriqul-Adhkar là “một trong những cơ cấu quan trọng nhất trên Thế giới”, và Đức Shoghi-Effendi chỉ ra rằng nó biểu trưng sự cụ thể hợp nhất trong việc “thờ phượng và phụng sự theo cách Baha’i”, tiên báo về sự phát triển mai sau của cơ cấu này, Đức Shoghi-Effendi minh hoạ Đền thờ và các toà kiến trúc phụ “sẽ đem đến sự cứu trợ cho những người đau khổ, nuôi dưỡng người nghèo, nơi nương tựa cho kẻ lữ hành, nguồn an ủi cho người tang khó, và sự giáo dục cho kẻ dốt”. Trong tương lai, đền thờ Baha’i sẽ được xây dựng ở mỗi thị trấn và mỗi làng.

54. Đấng Chúa đã truyền phán rằng những ai trong các ngươi có khả năng hãy hành hương về Ngôi Nhà thiêng liêng ¶32
 Lệnh này bao gồm hai Ngôi Nhà thiêng liêng, Ngôi Nhà của Đức Bab ở Shiraz và Ngôi Nhà của Đức Baha’u’llah ở Baghdad. Đức Baha’u’llah đã nêu cụ thể rằng hành hương tới một trong hai Ngôi Nhà thiêng liêng này là hoàn thành điều đòi hỏi của đoạn kinh này (Vấn và Đáp 25, Vấn và Đáp 29). Trong hai Kinh bản riêng biệt, là Suriy-i-Hajj (Vấn và Đáp 10), Đức Baha’u’llah đã qui định những nghi thức cụ thể cho mỗi nơi hành hương. Theo ý nghĩa này, thì việc thực hiện chuyến hành hương còn có ý nghĩa to lớn, chứ không phải chỉ là đến thăm hai Ngôi Nhà.

 Sau khi Đức Baha’u’llah thăng thiên, Đức Abdul-Baha chỉ định Thánh lăng của Đức Baha’u’llah ở Bahji là nơi hành hương. Trong một Kinh bản, Ngài chỉ ra rằng “Thánh lăng Thiêng liêng Nhất, Ngôi nhà được Chúc phúc ở Baghdad, và ngôi nhà tôn quý của Đức Bab ở Shiraz” là “những chốn thiêng liêng để hành hương”, và người ta “bắt buộc” phải viếng những nơi này “nếu có điều kiện và khả năng để làm điều đó, và nếu không có trở lực nào trên đường đi”. Không nghi lễ nào được qui định cho việc hành hương về ngôi Thánh lăng Thiêng liêng Nhất.

55. và điều này Ngài đã đặc miễn cho phụ nữ như là một thiên ân của Ngài ¶32
 Trong kinh Bayan, Đức Bab truyền phán lệnh hành hương một lần trong đời người đối với những tín đồ của Ngài có khả năng tài chánh để thực hiện cuộc du hành. Ngài dạy rằng nghĩa vụ này không bắt buộc đối với phụ nữ để tránh cho họ những cam go của chuyến đi.

Cũng thế, Đức Baha’u’llah đã miễn cho phụ nữ về các yêu cầu hành hương do Ngài đưa ra. Toà Công lý Quốc tế đã minh giải rằng sự đặc miễn này không phải là điều cấm, và các phụ nữ đều được tự do đi hành hương.

56. gắn bó với một việc làm ¶33
 Người nam và người nữ đều bắt buộc phải tham gia vào việc thương mãi hoặc nghề chuyên môn. Đức Baha’u’llah đề cao “sự gắn bó với việc làm như thế” lên “hàng thờ phượng” Thượng Đế. Ý nghĩa tâm linh và thực tế của luật này, và trách nhiệm hỗ tương giữa cá nhân với xã hội về việc thực thi luật này đã được giải thích trong một bức thư viết theo lệnh Đức Shoghi-Effendi.

 Về phán lệnh của Đức Baha’u’llah liên quan đến việc gắn bó của người tín đồ với một nghề nghiệp nào: Giáo lý nhấn mạnh nhất về đề tài này, đặc biệt lời phán trong Thánh kinh Kitab-i-Aqdas về phương diện này càng cho thấy thật rõ rằng những người không muốn lao động không thể có chỗ đứng trong nền trật tự thế giới mới. Trong mối liên hệ với nguyên lý này, Đức Baha’u’llah phán thêm rằng việc ăn xin không những không nên khuyến khích mà còn phải loại trừ ra khỏi bộ mặt xã hội. Bổn phận của những người phụ trách tổ chức xã hội là phải cho mọi cá nhân cơ hội để thủ đắc tài năng cần thiết trong một nghề nào đó, và cấp cả phương tiện để vận dụng tài năng đó, cho lợi ích xã hội và cho việc kiếm sống. Mọi cá nhân, bất kể là bị tàn tật và hạn chế ra sao, đều có nghĩa vụ phải dự vào một công việc hoặc nghề nghiệp nào đó, bởi vì lao động, đặc biệt khi thực hiện trong tinh thần phụng sự, thì theo Đức Baha’u’llah là một hình thức thờ phượng. Nó không những có mục đích lợi ích, mà còn có giá trị tự thân, vì nó đưa chúng ta đến gần Thượng Đế, và giúp chúng ta lĩnh hội tốt hơn mục đích của Ngài đối với chúng ta trong thế giới này. Vì vậy, hẳn nhiên là việc thừa hưởng gia sản cũng không miễn cho ai khỏi lao động hàng ngày.

 Trong một Kinh bản, Đức Abdul-Baha dạy rằng “nếu một người nào không thể kiếm sống, bị dày vò bởi cái nghèo cùng độ hoặc trở nên neo đơn, thì những người giàu có hoặc những Đại biểu phải cung cấp cho họ một khoản trợ cấp hằng tháng để họ sống... Tiếng Đại biểu có nghĩa là những người đại diện cho dân chúng, tức là các uỷ viên của Toà Công lý” (Hãy xem thêm chú thích 162 về đề tài hành khất).

 Để trả lời một câu hỏi liên quan đến phán lệnh của Đức Baha’u’llah đòi hỏi người vợ và mẹ, cũng như chồng của người ấy, phải làm việc để kiếm sống, Toà Công lý Quốc tế đã giải thích rằng chỉ thị của Đức Baha’u’llah là để cho các đạo hữu phải dấn thân vào một công việc đem lại lợi ích cho bản thân và cho người khác, và rằng sự tạo lập gia đình là một công việc đầy trách nhiệm và vô cùng cao quí, có tầm quan trọng căn bản đối với xã hội.

 Về việc hưu trí đối với các cá nhân đã lên tới tuổi nào đó, Đức Shoghi-Effendi, trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, đã dạy rằng “đây là vấn đề mà Toà Công lý Quốc tế sẽ lập qui vì trong Kinh Aqdas không có điều khoản nào về nó”.

57. Lệ hôn tay bị cấm chỉ trong Thánh kinh. ¶34
 Trong một số các tôn giáo trước và trong một số nền văn hoá, lệ hôn tay một nhân vật tôn giáo hoặc một người cao trọng được xem như dấu hiệu tôn kính và quý nể đối với những người ấy và xem như dấu hiệu phục tùng uy quyền của họ. Đức Baha’u’llah cấm hôn tay, và trong các Kinh bản của Ngài, Ngài cũng lên án tục người này quỳ lạy người khác và các dạng hành vi khác khiến người này bị hạ nhục đối với người kia (chú thích 58).

58. Không ai được phép tìm sự tha tội nơi một linh hồn khác ¶34
 Đức Baha’u’llah cấm xưng tội và tìm sự xá tội nơi con người. Thay vào đó người ta nên tìm sự tha thứ nơi Thượng Đế. Trong Kinh bản Bisharat, Ngài dạy rằng “sự xưng tội như thế trước con người tạo nên sự hèn kém và tủi hổ cho con người”, và Ngài khẳng định rằng Thượng Đế “không muốn các tôi con Ngài bị tủi nhục”.

Đức Shoghi-Effendi nêu rõ điều cấm trong văn bản. Thư ký của Ngài viết theo lệnh Ngài rằng chúng ta

...bị cấm thú nhận với bất cứ người nào, như người Công giáo với các tu sĩ của họ, các tội lỗi và khuyết điểm của chúng ta, hoặc làm thế trước công chúng, như một số giáo phái vẫn làm. Tuy nhiên, nếu chúng ta chân thành khát khao muốn nhìn nhận rằng mình đã sái quấy về điều gì, hoặc chúng ta có khuyết điểm trong đức hạnh, và xin người khác bỏ qua hoặc tha lỗi, thì chúng ta cũng được tự do làm thế.

Toà Công lý Quốc tế cũng minh giải rằng điều cấm của Đức Baha’u’llah liên quan đến việc xưng tội, không hề ngăn cản một cá nhân trong việc nhìn nhận các quá phạm của mình trong tiến trình hội ý dưới sự bảo trợ của các cơ cấu Baha’i. Cũng thế, nó không ngăn trở việc tìm kiếm lời khuyên của bạn thân hoặc của vị cố vấn chuyên nghiệp về các vấn đề.

59. Giữa công chúng có kẻ ngồi nơi chỗ để giày dép ngoài cửa, mà lòng thì thèm khát địa vị danh dự. ¶36
 Theo truyền thống Đông phương người ta có lệ cởi dép và giày trước khi bước vào nơi hội họp. Chỗ xa nhất trong phòng tính từ cửa vào được xem là đầu phòng và là chỗ danh dự dành cho những người trọng vọng nhất ngồi. Những người khác ngồi theo thứ tự thấp hơn nơi cửa vào, ở đó người ta để giày dép và là nơi ngồi của những người thấp kém nhất.

60. Và giữa công chúng có kẻ tự cho là mình có tri thức nội tại ¶36
Câu này nói tới những người tự cho mình đạt được tri thức mới lạ và sự ràng buộc với tri thức đó che mờ tâm trí họ trước Mặc khải của Đấng Biểu hiện của Thượng Đế. Ở một nơi khác, Đức Baha’u’llah khẳng định: “Những kẻ thuộc vào hàng người thờ thần tượng do trí tưởng tượng của họ khắc hoạ, và họ gọi đó là Chân lý Nội tại, quả thực những kẻ như thế đều bị liệt vào hàng vô tín”.

61. Biết bao người ẩn tu ở khắp miền tại Ấn độ đã tự khước từ những điều mà Thượng Đế đã chỉ dụ là hợp pháp, tự buộc mình sống kham khổ và hành xác ¶36
 Những câu thánh thi này hợp thành điều cấm hành xác và ẩn tu. Hãy xem Khái yếu và Pháp điển, phần IV. D. I. y. III-IV. Trong Lời Thiên đàng, Đức Baha’u’llah đã khai triển các khoản này. Ngài dạy: “Sống trong sự cô lập hoặc thực hành sự ẩn tu là điều không được chấp nhận trước Thượng Đế”, và Ngài kêu gọi những người liên hệ hãy “tuân giữ điều gì đem lại niềm vui và sự trong sáng”. Ngài dạy những người đã chọn “chỗ ở nơi các hang động trên núi” hoặc những người “thường lui tới nghĩa địa về đêm” hãy bỏ các tập tục này, và Ngài kêu gọi họ không nên tự tước bỏ những “ơn phước” của thế giới này mà Thượng Đế đã tạo nên cho cả nhân loại. Và trong Kinh bản Bisharat, trong khi nhìn nhận những “hành vi sùng kính” của các tu sĩ, Đức Baha’u’llah kêu gọi họ “hãy từ bỏ cuộc sống cô lập và hướng bước chân về thế giới rộng mở và hãy bận bịu với những gì làm lợi cho chính họ và cho người khác”. Ngài cũng cho phép họ “bước vào hôn nhân để họ có thể cho ra đời người sẽ nhắc tới Thượng Đế.”

62. Kẻ nào đưa ra lời tuyên bố về một Mặc khải trực tiếp của Thượng Đế trước khi chấm dứt một ngàn năm¶37
 Kỳ Cứu độ của Đức Baha’u’llah sẽ kéo dài cho đến khi xuất hiện Đấng Biểu hiện của Thượng Đế về sau, mà sự giáng lâm không xảy ra trước khi ít nhất “một ngàn năm trọn” sẽ trôi qua. Đức Baha’u’llah lưu ý bác bỏ việc gán cho “câu thánh thi này” ý nghĩa nào khác ngoài “ý nghĩa hiển nhiên” của nó, và trong một Kinh bản của Ngài, Ngài giải rõ rằng “mỗi năm” của thời gian một ngàn năm này gồm “mười hai tháng theo Kinh Quran và mười chín tháng mỗi tháng mười chín ngày theo Kinh Bayan”.

 Sự tiếp nhận Mặc khải của Ngài đối với Đức Baha’u’llah ở trong hầm giam Siyah - Chal ở Tihran, vào tháng mười năm 1852, đánh dấu sự khai sinh Sứ mạng Tiên tri của Ngài và từ đó bắt đầu một ngàn năm hoặc hơn nữa phải trôi qua trước khi xuất hiện Đấng Biểu hiện của Thượng Đế sau này.

63. Đây là điều Chúng Ta đưa ra để nhắc trước các ngươi khi Chúng Ta sống ở Iraq, rồi sau này khi ở Xứ Huyền bí, và giờ đây ở Địa điểm Huy hoàng này. ¶37
 “Xứ huyền bí” là chỉ Adrianople, và “Địa điểm Huy hoàng này” là chỉ Akka.

64. Trong dân chúng có kẻ mà sự học vấn đã làm phát sinh lòng kiêu ngạo...là kẻ khi nghe tiếng dép bước theo mình, đã ưỡn ngực tự tôn ¶41
Ở Đông phương, theo lệ các tín đồ của một vị lãnh đạo tôn giáo, do lòng nể trọng, đã đi sau ông ta một vài bước.

65. Nimrod ¶41
 Nimrod được nhắc tới trong câu thánh thi này, trong cả truyền thống Do Thái giáo và Hồi giáo, là ông vua đã đàn áp Đức Abraham và tên ông ta trở thành tượng trưng cho sự kiêu ngạo cao độ.

66. Aghsan ¶42
 Aghsan (số nhiều của Ghusn) trong tiếng Á-rập nghĩa là “các Cành”. Thuật ngữ này được Đức Baha’u’llah dùng để chỉ các hậu duệ nam của Ngài. Nó không những hàm ý đặc biệt về ơn phú bẩm, mà cả về sự kế quyền sau sự thăng thiên của Đức Baha’u’llah (chú thích 145) và của Đức Abdul-Baha. Đức Baha’u’llah trong Kinh Giao ước của Ngài đã chỉ định Đức Abdul-Baha, trưởng nam của Ngài, làm Trung tâm Giao ước của Ngài và làm Thủ lãnh Chánh Đạo của Ngài. Đức Abdul-Baha, trong Chúc thư và Giao ước của Ngài, đã chỉ định Đức Shoghi Effendi, cháu đích tôn của Ngài, làm Đức Giáo hộ và làm Thủ lãnh Chánh Đạo.

 Vì vậy, đoạn này trong Kinh Aqdas, tiên báo một chuổi Aghsan được chọn và cơ cấu Giáo hộ và dự liệu khả năng cắt đứt chuổi này. Sự qua đời của Đức Shoghi Effendi năm 1957 đưa tới tình huống đã nêu trong đoạn văn này, trong đó chuổi Aghsan chấm dứt trước khi Tòa Công lý Quốc tế được thành lập (chú thích 67).

67. chuyển cho con dân của Đấng Baha ¶42
 Đức Baha’u’llah cung cấp khả năng rằng chuổi các Aghsan sẽ chấm dứt truớc sự thành lập Tòa công lý Quốc tế. Ngài chỉ rõ rằng trong tình huống ấy “những của dâng sẽ chuyển cho con dân của Đấng Baha”. Thuật ngữ “Con dân của Đấng Baha” được dùng với một số nghĩa khác nhau trong các Thánh thư Baha’i. Trong trường hợp này nó chỉ “những người không nói nếu không được phép Ngài, và chỉ đoán xét đúng với những gì Thượng Đế đã truyền phán trong Kinh bản này”. Sau sự qua đời của Đức Shoghi Effendi năm 1957, các vị Giáo thủ của Chánh Đạo của Thượng Đế điều khiển công việc của Chánh Đạo cho đến khi Tòa Công lý Quốc tế được bầu ra năm 1963 (chú thích 183).

68. Chớ cạo trọc đầu các ngươi ¶44
 Trong một số truyền thống tôn giáo cho rằng cạo trọc đầu là điều thích đáng. Đức Baha’u’llah cấm cạo trọc đầu, và Ngài giải rõ rằng điều khoản trong Kinh Suriy-i-Hajj của Ngài đòi hỏi những người hành hương về Ngôi nhà thiêng liêng ở Shiraz phải cạo đầu đã được thay thế bởi câu thánh thi này trong Kitab-i-Aqdas (Vấn và Đáp 10).

69. để tóc dài quá giới hạn của tai là không tề chỉnh¶44
 Đức Shoghi Effendi đã giải rõ rằng, không giống như việc cấm cạo đầu, luật này cấm để tóc dài quá trái tai chỉ áp dụng đối với đàn ông. Việc áp dụng luật này sẽ cần có sự minh giải của Tòa công lý Quốc tế.

70. Án lưu đày và cầm tù được ấn định đối với kẻ trộm¶45
 Đức Baha’u’llah dạy rằng việc xác định mức độ hình phạt, tùy mức nghiêm trọng của tội phạm, sẽ thuộc quyền Tòa Công lý (Vấn và Đáp 49). Các hình phạt dành cho tội trộm dự liệu trong điều kiện tương lai của xã hội, khi được Toà Công lý Quốc tế bổ sung và áp dụng.

71. khi vi phạm lần thứ ba, thì các ngươi hãy ghi dấu lên trán hắn, để bị nhận diện như thế, hắn không còn được nhìn nhận trong các thành phố của Thượng Đế và trong các nước của Ngài ¶45.
 Dấu ghi trên trán kẻ trộm có mục đích cảnh cáo những kẻ cùng khuynh hướng với hắn. Tất cả chi tiết liên quan đến tính chất con dấu, và dấu ấy được ghi như thế nào, dấu ấy phải mang bao lâu, sẽ xóa đi theo điều kiện nào, cũng như tính nghiêm trọng của các mức tội trộm khác nhau đã được Đức Baha’u’llah để cho tòa Công lý Quốc tế xác định khi luật này được áp dụng.

72. Bất cứ ai cũng được tự do dùng bình tách bằng bạc và bằng vàng theo ý muốn. ¶46
 Trong kinh Bayan, Đức Bab cho phép dùng các vật dụng bằng vàng và bạc, như thế là bãi bỏ sự buộc tội của Hồi giáo về việc dùng các thứ này, điều này không quy định rõ trong kinh Quran nhưng chỉ theo tập truyền Hồi giáo, ở đây Đức Baha’u’llah chuẩn nhận sự quy định của Đức Bab.

73. Hãy lưu ý khi ăn, các ngươi đừng nhúng tay vào thức ăn đựng trong chén đĩa. ¶46
 Điều cấm này đã được Đức Shoghi Effendi định nghĩa là “nhúng tay vào thức ăn”. Ở nhiều nơi trên thế giới người ta có thói quen dùng bàn tay bốc thức ăn trong một cái bát chung.

74. Các ngươi hãy chấp nhận những tập tục thích hợp nhất cho sự tao nhã. ¶46
 Đây là đoạn thứ nhất trong nhiều đoạn nêu lên tầm quan trọng của sự tao nhã và sạch sẽ. Từ gốc tiếng Á-rập “litafat”, ở đây dịch là “tao nhã”, có những nghĩa rất rộng hàm ý về cả vật chất và tinh thần, như là lịch sự duyên dáng, sạch sẽ, thanh lịch, lễ độ, dịu dàng, tinh tế và quí phái, cũng có nghĩa là tế nhị, trau chuốt, thoát tục và tinh khiết. Theo nội dung các đoạn khác mà từ này xuất hiện trong Kitab-i-Aqdas, nó được dịch là “tao nhã” hoặc “sạch sẽ”.

75. Ngài là Chốn Bình minh Chánh Đạo của Thượng Đế không có người đồng sự trong ơn Vô nhiễm Tối đại.¶47
 Trong Kinh bản Ishraqat, Đức Baha’u’llah xác nhận rằng ơn Vô nhiễm Tối đại thuộc về các Đấng Biểu hiện của Thượng Đế.

 Chương 45 sách Some Answered Questions có ghi lời giải thích của Đức Abdul-Baha về câu thánh thi này của Kinh Aqdas. Trong chương này, bên cạnh nhiều điều khác, Ngài đã nhấn mạnh tính “vô nhiễm” tất yếu không thể tách rời khỏi các Đấng Biểu hiện của Thượng Đế, và xác nhận rằng “bất cứ điều gì xuất phát từ các Ngài đều đồng nghĩa với chân lý, và phù hợp với thực tại”, rằng “các Ngài không ở dưới bóng các luật lệ cũ” và “Bất cứ điều gì các Ngài phán đều là lời của Thượng Đế, và bất cứ điều gì các Ngài thực hiện đều là hành động chính trực”.

76. Mọi người cha đều được lệnh là phải dạy dỗ con trai cũng như con gái trong nghệ thuật đọc, viết ¶48
 Đức Abdul-Baha trong các Kinh bản của Ngài, không những kêu gọi sự lưu tâm tới trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo dục tất cả con cái, nhưng Ngài còn chỉ rõ rằng “việc rèn luyện và dạy dỗ con gái còn cần thiết hơn là đối với con trai”, vì các cháu gái một ngày kia sẽ trở thành các bà mẹ, và các bà mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên của thế hệ mới. Bởi vậy, nếu gia đình không đủ sức giáo dục tất cả các con, thì phải dành ưu tiên cho con gái, vì qua những người mẹ có giáo dục, các lợi ích của tri thức có thể truyền đạt hữu hiệu và nhanh chóng đến toàn xã hội.

77. Thượng Đế đã định án phạt tiền đối với mọi người ngoại tình nam cũng như nữ, là phải trả cho Tòa Công lý ¶49
 Dù thuật ngữ dịch ở đây là ngoại tình, theo nghĩa rộng nhất của nó, nói tới sự giao hợp bất hợp pháp giữa các cá nhân độc thân hoặc đã kết hôn (chú thích 36 để biết định nghĩa của thuật ngữ), Đức Abdul-Baha đã chỉ rõ rằng hình phạt quy định ở đây là về sự giao hợp giữa những người không kết hôn. Ngài dạy rằng Toà Công lý sẽ xác định hình phạt cho tội ngoại tình đối với những người đã kết hôn (xem thêm Vấn và Đáp 49).

Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Abdul-Baha nhắc tới một số ý nghĩa tâm linh và xã hội của sự vi phạm các điều luật đạo đức, và về hình phạt mô tả ở đây, Ngài chỉ ra rằng mục đích của luật này là để làm sáng tỏ trước mắt mọi người rằng hành động như thế là đáng xấu hổ trước mắt Thượng Đế, và rằng, nếu một tội phạm được xác định và một khoản tiền phạt được quy định, mục đích chính là để tố cáo những kẻ phạm tội _ khiến họ bị xấu hổ và nhục nhã trước mắt xã hội. Ngài xác định rằng sự tố cáo ấy tự nó là hình phạt nặng nhất.

Tòa Công lý được nhắc tới trong câu thánh thi này là Tòa Công lý Địa phương, hiện nay được gọi là Hội đồng Tinh thần Địa phương.

78. chín mithqal vàng, sẽ tăng lên gấp đôi khi phạm tội lần thứ hai ¶49
 Một Mithqal là một đơn vị cân đo. Trọng lượng một mithqal theo truyền thống dùng ở Trung đông là tương đương với 24 nakhud. Tuy nhiên, mithqal mà người Baha’i dùng là 19 nakhud “theo sự quy định trong Kinh Bayan” (Vấn và Đáp 23). Trọng lượng chín mithqal này bằng 32,775 gram hoặc 1,05374 lượng (troy ounces).

 Còn cách áp dụng khoản phạt, Đức Baha’u’llah định rõ rằng mỗi khoản phạt lần sau tăng gấp đôi lần trước (Vấn và Đáp 23); như thế khoản phạt ấn định tăng theo bước tiến hình học. Sự thiết đặt khoản phạt này dự trù cho điều kiện sau này của xã hội, lúc đó luật sẽ được Tòa Công lý Quốc tế bổ sung và áp dụng.

79. Chúng Ta đã khiến việc nghe nhạc và ca hát của các ngươi thành hợp pháp. ¶51
 Đức Abdul-Baha đã viết rằng “Ở một số nước Phương Đông, âm nhạc bị xem là đáng chê”. Dù Kinh Quran không có sự hướng dẫn cụ thể nào về đề tài này, một số người Hồi giáo đã cho việc nghe nhạc là bất hợp pháp, trong khi một số người khác chấp nhận âm nhạc trong các giới hạn nhất định và tùy điều kiện riêng biệt.

 Có một số đoạn trong các Thánh thư Baha’i ca ngợi âm nhạc. Chẳng hạn như Đức Abdul-Baha nhìn nhận rằng “âm nhạc, hát hoặc trình diễn, là thức ăn tinh thần cho linh hồn và tâm hồn”.

80. Hỡi các ngươi là những Người của Công lý! ¶52
 Trong các Thánh thư của Đức Abdul-Baha và Đức Shoghi Effendi đã có giải thích rõ rằng, trong khi các Ủy viên Tòa Công lý Quốc tế chỉ gồm toàn đàn ông, thì cả đàn bà và đàn ông đều có quyền bầu cử và đắc cử vào các Toà Công lý Địa phương và Đệ Nhị Cấp (hiện nay được gọi là các Hội đồng Tinh thần Địa phương và Quốc gia).

81. Những hình phạt vì gây thương tích hay đánh đập người khác là tùy ở mức trầm trọng của sự tổn thương; ở mỗi mức độ, Đấng Chúa của sự Phán xét đã quy định một khoản bồi thường nhất định. ¶56
 Trong khi Đức Baha’u’llah vạch rõ rằng mức phạt là tùy ở “tính trầm trọng của sự tổn thương”, không thấy có sự ghi chép nào cho thấy Ngài định chi tiết cho khoản tiền bồi thường liên hệ tới mỗi mức độ vi phạm. Trách nhiệm xác định các khoản này thuộc về Tòa Công lý Quốc tế.

82. Quả vậy, các ngươi có bổn phận phải cử hành lễ, mỗi tháng một lần. ¶57
 Lệnh này đã trở thành nền tảng cho việc cử hành lễ Baha’i hằng tháng và đã tạo nên cơ chế Lễ Mười chín Ngày. Trong Kinh Bayan tiếng Á-rập, Đức Bab kêu gọi các tín đồ của Ngài họp lại với nhau mười chín ngày một lần để tỏ lòng hiếu khách và tình thân hữu. Ở đây Đức Baha’u’llah chuẩn nhận lễ này và nêu lên vai trò hợp nhất của các dịp lễ đó.

 Sau Ngài, Đức Abdul-Baha và Đức Shoghi Effendi đã lần lượt triển khai ý nghĩa cơ cấu của lệnh này. Đức Abdul-Baha nhấn mạnh tầm quan trọng tính chất tâm linh và sùng kính của các cuộc họp này. Đức Shoghi Effendi, ngoài việc nêu rõ hơn nữa các mặt sùng kính và xã hội của buổi lễ, còn mở rộng yếu tố quản trị của các cuộc họp đó, và trong khi cơ chế hóa một cách có hệ thống cuộc lễ này, đã cung cấp một thời gian hội ý về các công việc của cộng đồng Baha’i, kể cả việc thông báo tin tức và đọc các thông điệp.

 Để trả lời câu hỏi là lệnh này có tính chất bắt buộc hay không, Đức Baha’u’llah dạy rằng không (Vấn và Đáp 48). Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi nhận định rằng :

 Việc tham dự Lễ Mười chín Ngày không có tính bắt buộc, nhưng rất quan trọng, và mọi tín đồ phải xem đó là một nghĩa vụ và đặc ân được hiện diện trong những dịp như thế.

83. Nếu các ngươi dùng thú hay chim mồi để đi săn, hãy xướng Danh của Thượng Đế khi cho chúng đuổi theo con mồi; bấy giờ các ngươi nhận con mồi nào chúng săn được đều hợp pháp, kể cả con mồi chết. ¶60
 Bằng luật này, Đức Baha’u’llah đã giản dị hóa thật nhiều các tập tục và các quy định của tôn giáo xưa về việc đi săn. Ngài cũng dạy rằng việc đi săn bằng vũ khí như cung tên, súng và v.v... cũng gồm trong quy định này, nhưng việc tiêu thụ con mồi nếu tìm thấy bị chết trong bẫy hoặc trong lưới thì bị cấm (Vấn và Đáp 24).

84. các ngươi chớ đi săn thái quá ¶60
 Trong khi Đức Baha’u’llah không cấm đi săn, Ngài cũng đã cảnh cáo việc đi săn thái quá. Khi đến lúc, Tòa Công lý Quốc tế sẽ xét những yếu tố về sự đi săn thái quá.

85. Ngài không ban cho họ quyền gì đối với tài sản của người khác. ¶61
 Lệnh bày tỏ lòng tử tế đối với thân tộc của Đức Baha’u’llah không khiến họ được chia tài sản của người khác. Điều này trái với thông lệ Hồi giáo Shiih, cho phép các hậu duệ của Đức Muhammad được nhận một phần của một khoản thuế nhất định.

86. Nếu kẻ nào chủ tâm dùng lửa đốt một cái nhà, kẻ ấy cũng bị đốt; nếu kẻ nào tự ý đoạt mạng sống người khác, kẻ ấy cũng phải bị giết. ¶62
 Luật của Đức Baha’u’llah quy định án tử hình cho tội giết người và đốt nhà, cùng với án tù chung thân (chú thích 87).

 Trong các Kinh bản của Ngài, Đức Abdul-Baha giải thích sự khác nhau giữa báo thù và hình phạt. Ngài khẳng định rằng các cá nhân không có quyền báo thù, rằng sự báo thù là đáng khinh trước mắt Thượng Đế, và rằng động cơ của hình phạt không phải là báo thù, nhưng chỉ là quy định một án phạt cho một tội đã phạm. Trong sách Some Answered Questions, Ngài xác nhận rằng xã hội có quyền định hình phạt cho các phạm nhân vì mục đích bảo vệ các thành viên của xã hội và duy trì sự tồn tại của nó.

 Về điều khoản này, trong một bức thư viết theo lệnh Đức Shoghi Effendi, Ngài giải thích như sau:

 Trong Kinh Aqdas, Đức Baha’u’llah đã lấy cái chết làm án phạt kẻ sát nhân. Tuy nhiên, Ngài cũng cho phép xử tù chung thân. Cả hai cách áp dụng này đều phù hợp với Luật pháp của Ngài. Một số người trong chúng ta có thể không lĩnh hội được sự minh triết của điều khoản này khi nó không phù hợp với nhãn quan hữu hạn của chúng ta; nhưng chúng ta phải chấp nhận nó, do hiểu biết Đức Minh triết, Đức Bác ái và Đức Công bằng của Ngài là hoàn hảo và vì sự giải thoát của toàn thế giới. Nếu một người bị kết án tử hình một cách sai lầm, chúng ta há không thể tin rằng Đấng Thượng Đế Toàn năng sẽ đền bù cho người ấy cả ngàn lần trong thế giới sau, vì sự bất công này của con người? Ta không thể phế bỏ một điều luật cao quý vì trong vài trường hợp họa hiếm kẻ vô tội có thể bị phạt.

 Các chi tiết của luật Baha’i về trừng phạt đối với tội giết người và đốt nhà, một điều luật phác họa cho tình trạng xã hội mai sau không được Đức Baha’u’llah quy định rõ. Các chi tiết khác liên quan đến luật này, như mức độ phạm tội, các tình huống giảm khinh được xét ra sao, và hình phạt nào trong hai hình phạt sẽ áp dụng thường, đều được để Toà Công lý Quốc tế quyết định trong ánh sáng những điều kiện thịnh hành khi luật này được thi hành. Cách thực hiện hình phạt cũng tùy Tòa Công lý Quốc tế quyết định.

 Về tội đốt nhà, điều này tùy thuộc loại “nhà” nào bị đốt. Dĩ nhiên là có sự khác biệt to lớn về mức phạm tội giữa người đốt một nhà kho bỏ trống và người đốt một ngôi trường đầy trẻ em.

87. Nếu các ngươi kết án tù chung thân kẻ đốt nhà và sát nhân, điều đó được cho phép theo các điều khoản của Thánh kinh. ¶62
 Để trả lời một câu hỏi về câu thánh thi này trong Kinh Aqdas, Đức Shoghi Effendi đã xác nhận rằng trong khi án tử hình được cho phép, “án tù chung thân” cũng có thể thay vào “khi sự trầm trọng của án phạt có thể giảm bớt nhiều”. Ngài dạy rằng “Đức Baha’u’llah đã ban cho chúng ta sự lựa chọn và vì vậy đã để cho chúng ta tự do sử dụng sự phán đoán riêng trong những giới hạn nhất định mà luật của Ngài đã đề ra”. Vì còn thiếu sự hướng dẫn cụ thể liên quan tới sự áp dụng phương diện này của luật Baha’i, Tòa Công lý Quốc tế sẽ lập qui về vấn đề này trong tương lai.

88. Thượng Đế đã thiết định việc hôn nhân cho các ngươi. ¶63
 Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah dạy rằng Thượng Đế, trong khi thiết lập luật này, đã biến hôn nhân thành “một thành trì của hạnh phúc và sự giải thoát”.

 Khái yếu và Pháp điển đoạn IV. C. I. a-o, tóm tắt và hệ thống hóa các điều khoản trong Kitab-i-Aqdas, phần Vấn và Đáp về hôn nhân và các điều kiện được phép thực hiện (Vấn và Đáp 3, Vấn và Đáp 13, Vấn và Đáp 46, Vấn và Đáp 50, Vấn và Đáp 84, Vấn và Đáp 92), luật về lễ hỏi (Vấn và Đáp 43), việc trả khoản sính lễ (Vấn và Đáp 12, Vấn và Đáp 26, Vấn và Đáp 39, Vấn và Đáp 47, Vấn và Đáp 87, Vấn và Đáp 88), các thủ tục phải tuân theo trong hoàn cảnh người chồng vắng mặt lâu (Vấn và Đáp 4 , Vấn và Đáp 27), và những tình huống khác (Vấn và Đáp 12 , Vấn và Đáp 47). (Xem thêm các chú thích 89, chú thích 90, chú thích 91, chú thích 92, chú thích 93, chú thích 94, chú thích 95, chú thích 96, chú thích 97, chú thích 98, chú thích 99).

89. Hãy lưu ý kẻo ngươi kết hôn quá hai vợ. Ai tự bằng lòng với chỉ một người bạn đời trong các nữ tì của Thượng Đế, thì cả chàng và nàng sẽ sống trong cảnh an nhàn. ¶63
 Trong khi nguyên văn Kitab-i-Aqdas có vẻ như cho phép chế độ 2 vợ, Đức Baha’u’llah khuyên rằng sự an nhàn và thỏa mãn chỉ có trong chế độ nhất thê. Trong một Kinh bản khác, Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động cá nhân làm sao để có thể “đem đến sự thảnh thơi cho bản thân và cho người bạn đời”. Đức Abdul-Baha, Đấng Giải thích thẩm quyền các Thánh thư Baha’i, dạy rằng trong nguyên văn Kinh Aqdas chế độ nhất thê được quy định trên thực tế. Ngài khai triển đề tài trong một số Kinh bản, gồm có đoạn sau đây:

 Ngươi phải biết rằng chế độ đa thê không được cho phép dưới Luật pháp của Thượng Đế, vì sự bằng lòng với một vợ đã đuợc nhấn mạnh rõ ràng. Việc lấy người vợ thứ hai được đặt tùy thuộc vào sự vô tư và công bằng giữa hai người vợ trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, giữ vô tư và công bằng đối với hai vợ là điều không thể thực hiện được. Sự kiện chế độ hai vợ được đặt tùy thuộc một điều kiện bất năng là bằng chứng rõ ràng rằng nó bị cấm. Bởi vậy một người không được phép có trên một vợ.

 Chế độ đa thê là một lệ xưa của đa số nhân loại. Việc đưa ra chế dộ nhất thê đã được các Đấng Biểu hiện của Thượng Đế hoàn thành lần hồi. Chẳng hạn như Đức chúa không cấm đa thê nhưng Ngài cấm li dị trừ trường hợp gian dâm; Đức Muhammad giới hạn số người vợ là bốn, nhưng việc có nhiều vợ phải dựa trên sự công bình, và lại cho phép sự li dị; Đức Baha’u’llah mặc khải Giáo lý của Ngài trong xã hội Hồi giáo, đưa ra vấn đề nhất thê lần hồi theo các nguyên tắc khôn ngoan và lần hồi cho thấy mục đích của Ngài. Sự kiện rằng Ngài đã để lại cho tín đồ Ngài một Đấng Giải thích không sai lầm các Thánh thư của Ngài, giúp Ngài bề ngoài cho phép hai vợ trong Kitab-i-Aqdas nhưng nêu rõ điều kiện giúp Đức Abdul-Baha sau này giải thích rằng chủ ý của luật là buộc phải theo chế độ nhất thê.

90. người nào nhận sự phục vụ của một tớ gái thì phải giữ mình đứng đắn ¶63
 Đức Baha’u’llah dạy rằng một người đàn ông có thể thuê một tớ gái để làm việc nhà. Điều này không cho phép trong lệ Hồi giáo Shiih nếu người chủ không lập hợp đồng kết hôn với tớ. Đức Baha’u’llah nhấn mạnh rằng “sự phục vụ” nêu trong câu thánh thi chỉ là “việc mà giới tôi tớ thường làm dù họ trẻ hay già, để nhận tiền lương” (Vấn và Đáp 30). Người chủ không có quyền về tình dục đối với tớ. Người tớ “tự do chọn chồng bất cứ lúc nào người ấy thích”, vì việc mua phụ nữ là bị cấm (Vấn và Đáp 30).

91. Đây là pháp lệnh Ta truyền cho các ngươi; hãy giữ chắc lấy nó như là một ơn phò trợ đối với các ngươi.¶63
 Trong khi hôn nhân được thiết định trong Kitab-i-Aqdas, Đức Baha’u’llah minh giải rằng điều này không có tính bắt buộc (Vấn và Đáp 46). Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi cũng tuyên bố rằng “việc hôn nhân hoàn toàn không phải là một nghĩa vụ” và Ngài khẳng định rằng “rốt lại, chính mỗi cá nhân tự quyết định là nên sống đời sống gia đình hay nên sống độc thân”. Nếu một người phải đợi một thời gian thực lâu mới tìm được vợ, hoặc cuối cùng phải sống độc thân, thì không có nghĩa là cá nhân ấy không hoàn thành mục đích đời mình mà cơ bản là thuộc linh.

92. Chúng Ta đã quy định việc hôn nhân tùy thuộc sự cho phép của hai bên cha mẹ ¶65
 Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi đã giảng giải về điều khoản này như sau :

 Đức Baha’u’llah đã dạy rõ là hôn nhân Baha’i đòi hỏi phải có sự ưng thuận của tất cả các bậc cha mẹ còn sinh tiền. Điều này áp dụng bất kể cha mẹ là Baha’i hay không Baha’i, đã li dị lâu năm hay còn sống chung. Ngài đã thiết lập luật vĩ đại này để củng cố giềng mối xã hội, để thắt chặt hơn nữa những niềm thân ái trong gia đình, để đặt trong lòng con cái sự biết ơn và kính trọng nhất định đối với những bậc đã cho họ sự sống và đưa linh hồn họ vào cuộc hành trình tiến về Đấng Sáng tạo của họ.

93. Không cuộc hôn nhân nào được kết ước mà không trả khoản sính lễ ¶66
 Sách Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV.C.I.J.1-5 tóm tắt những điều khoản chính liên quan đến sính lễ. Các điều khoản này đã được nêu trong Kinh Bayan. Sính lễ là do chú rễ trả cho cô dâu. Khoản này được quy định là 19 mithqal vàng ròng đối với dân thành phố và 19 mithqal bạc đối với dân nông thôn (chú thích 94). Đức Baha’u’llah chỉ ra rằng, nếu tới lúc làm lễ cưới mà chú rễ không đủ sức trả trọn sinh lễ thì chú rễ được phép viết tờ hứa trả cho cô dâu (Vấn và Đáp 39).

 Với Mặc khải của Đức Baha’u’llah nhiều quan niệm, phong tục, cơ chế quen thuộc đã được định nghĩa lại và có thêm nghĩa mới. Một trong những điều mới này là sính lễ. Cơ chế về của hồi môn là một tập tục rất xưa trong nhiều nền văn hóa và có nhiều dạng. Ở một số nước nó là khoản tiền cha mẹ cô dâu trả cho chú rễ; ở một số nước khác, nó là số tiền chú rễ trả cho cha mẹ cô dâu, gọi là “giá cô dâu”. Trong cả hai trường hợp này, khoản tiền trả thật là lớn. Luật của Đức Baha’u’llah xóa bỏ hết các biến dạng này và chuyển sính lễ thành một hành động tượng trưng qua đó chú rễ tặng cho cô dâu một món quà có giá trị tương đối.

94. cho cư dân đô thị là 19 mithqal vàng ròng,và cho cư dân thôn xã một số lượng y như thế bằng bạc ¶66
 Đức Baha’u’llah quy định rõ rằng tiêu chuẩn để xác định khoản sính lễ phải trả là nơi thường trú của chú rễ, chứ không phải của cô dâu (Vấn và Đáp 87, Vấn và Đáp 88).

95. Ai muốn tăng số này thì cấm vượt quá 95 mithqal... Tuy nhiên, nếu người con trai bằng lòng với khoản tiền trả thấp nhất, thì tốt nhất là theo như quy định trong Thánh kinh. ¶66
 Để trả lời câu hỏi về sính lễ, Đức Baha’u’llah dạy:

 Bất cứ điều gì đã được mặc khải trong Kinh Bayan, liên quan tới những người thường trú ở thành thị và nông thôn, đều được chuẩn thuận và thi hành. Tuy nhiên, trong Kitab-i-Aqdas có nói tới mức thấp nhất. Mức dự định là 19 mithqal bạc, nêu rõ trong Kinh Bayan đối với dân nông thôn. Điều này làm hài lòng Thượng Đế hơn, nếu hai bên ưng thuận. Mục đích là nâng cao sự thoải mái cho mọi người, đem lại sự hòa hợp và đoàn kết giữa dân chúng. Bởi vậy, càng dành sự suy xét nhiều cho những vấn đề này càng tốt... Con dân Đấng Baha phải giao tiếp và cư xử với nhau với tình yêu thương và lòng thành thật tột cùng. Họ phải lưu tâm tới quyền lợi của mọi người, đặt biệt là của các bạn hữu của Thượng Đế.

 Đức Abdul-Baha , trong một Kinh bản của Ngài, đã tóm tắt một số điều khoản để xác định mức sính lễ. Đơn vị khoản sính lễ, nêu dưới đây, chính xác là một “Vahid”. Một vahid tương đương với 19 mithqal. Ngài dạy:

 Cư dân đô thị phải trả bằng vàng và cư dân nông thôn trả bằng bạc. Nó tùy nơi phương tiện tài chánh phía chú rễ. Nếu người ấy nghèo, thì trả một vahid; nếu ở mức thường, thì trả hai vahid; nếu khá giả, thì trả ba vahid; nếu giàu, trả bốn vahid; nếu rất giàu, trả năm vahid. Quả thật, đây là vấn đề tuỳ sự thỏa thuận của chú rể, cô dâu, và đôi bên song thân. Đã được sự thỏa thuận như thế nào thì thực hành như thế đó.

 Cũng trong Kinh bản này, Đức Abdul-Baha khuyến khích tín đồ nêu những câu hỏi liên quan đến việc áp dụng luật này lên Tòa Công lý Quốc tế là cơ cấu có “thẩm quyền lập quy”. Ngài nhấn mạnh rằng “chính cơ quan này sẽ làm ra luật và lập quy về những vấn đề phụ thuộc không nêu rõ trong Văn bản Thiêng liêng”.

96. nếu kẻ tôi tớ nào của Ngài dự tính đi du lịch, thì phải xác định cho người vợ biết rõ khi nào mình trở về nhà ¶67
 Nếu người chồng đi xa mà không báo cho vợ biết ngày về, và người vợ không nhận được tin gì về chồng và không lần ra dấu tích gì của người ấy cả, Đức Baha’u’llah đã dạy rằng, nếu người chồng có biết về luật đã quy định trong Kitab-i-Aqdas, thì người vợ có thể tái giá sau khi đợi chờ trọn một năm. Tuy nhiên, nếu người chồng không biết về luật này, người vợ phải đợi cho đến khi nhận được tin chồng (Vấn và Đáp 4).

97. người vợ phải đợi chờ trong thời gian chín tháng, sau đó không có điều gì ngăn cản người vợ lấy chồng khác ¶67
 Cuối cùng nếu người chồng không trở về đúng thời gian đã định hoặc thông báo cho vợ biết sự trễ hẹn, người vợ phải đợi chín tháng, sau đó nàng tự do tái giá, dù rằng người vợ chờ đợi lâu hơn thì tốt hơn (chú thích 147 về lịch Baha’i).

Đức Baha’u’llah dạy rằng, trong những tình huống như thế, nếu người vợ được tin “người chồng đã chết hoặc bị giết”, nàng cũng phải đợi chín tháng trước khi tái giá (Vấn và Đáp 27). Trong một Kinh bản, Đức Abdul-Baha giải thích thêm rằng thời gian chín tháng chờ đợi sau khi được tin chồng chết chỉ áp dụng nếu chết khi đi xa, chứ không phải chết khi ở nhà.

98. thì nàng nên chọn lối cư xử xứng đáng ¶67
 Đức Baha’u’llah định nghĩa “lối cư xử xứng đáng” là “giữ sự bền lòng” (Vấn và Đáp 4).

99. hai người làm chứng đúng đắn ¶67
 Đức Baha’u’llah nêu rõ “tiêu chuẩn của sự đúng đắn” trong vấn đề nhân chứng là “danh tiếng tốt giữa công chúng”. Ngài dạy hai nhân chứng không cần thiết phải là người Baha’i, bởi vì “sự làm chứng của tất cả tôi con của Thượng Đế, không phân biệt đức tin hay tín ngưỡng, đều được chấp nhận trước Ngôi cao của Thượng Đế” (Vấn và Đáp 79).

100. Nếu có sự oán giận hoặc ác cảm xảy ra giữa chồng và vợ, người chồng không được ly dị vợ và phải giữ sự kiên nhẫn suốt thời gian một năm trọn ¶68
Việc ly dị bị lên án nặng nề trong giáo lý Baha’i. Tuy nhiên, nếu sự oán giận hoặc ác cảm nảy sinh giữa đôi vợ chồng, thì sự ly dị được cho phép sau thời gian trọn một năm. Trong thời gian ẩn nhẫn này, người chồng phải chu cấp tài chính cho vợ và con, và đôi vợ chồng phải cố gắng hòa giải sự dị biệt. Đức Shoghi Effendi khẳng định rằng vợ và chồng “đều có quyền bằng nhau trong việc xin ly dị” mỗi khi một trong hai người “cảm thấy tuyệt đối cần phải làm như thế”.

 Trong phần Vấn và Đáp, Đức Baha’u’llah nêu rõ một số vấn đề về năm chờ đợi, việc tuân giữ (Vấn và Đáp 12), việc xác định ngày bắt đầu (Vấn và Đáp 19 , Vấn và Đáp 40), những điều kiện hòa giải (Vấn và Đáp 38), vai trò của các nhân chứng và của Tòa Công lý Địa phương (Vấn và Đáp 73 , Vấn và Đáp 98). Về các nhân chứng, Tòa Công lý Quốc tế đã minh giải rõ rằng trong lúc này nhiệm vụ các nhân chứng trong các vụ ly dị do các Hội đồng Tinh thần phụ trách. Các điều khoản chi tiết của luật Baha’i về ly dị được tóm tắt trong Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV. C. 2. a-i.

101. Đấng Chúa đã cấm ...lối hành động cũ khi ngươi ly dị một người đàn bà tới ba lần. ¶68
 Điều này liên hệ tới luật Hồi giáo nêu trong Kinh Quran qui định rằng trong một số hoàn cảnh nhất định người đàn ông không thể tái kết hôn với người vợ đã ly dị của mình trừ khi người ấy đã kết hôn với người khác và đã ly dị. Đức Baha’u’llah xác định rằng tập tục này bị cấm trong Kitab-i-Aqdas (Vấn và Đáp 31).

102. Người chồng đã ly dị vợ, mỗi tháng trôi qua, có thể tái kết hôn với nàng, khi có tình cảm và sự ưng thuận với nhau, miễn là nàng chưa lấy chồng khác... trừ khi, rõ ràng là hoàn cảnh của nàng thay đổi. ¶68
 Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi dạy rằng chủ ý về “mỗi tháng trôi qua” là không xác định giới hạn, và rằng đôi vợ chồng ly dị có thể tái kết hôn bất cứ lúc nào sau khi ly dị, miễn là không ai trong hai người đã kết hôn với một người khác.

103. tinh dịch không phải là bất khiết ¶74
 Trong một số truyền thống tôn giáo và trong Hồi giáo Shiih tinh dịch bị xem là bất khiết trong nghi thức. Đức Baha’u’llah đã xóa bỏ quan niệm này. Xin xem thêm chú thích 106 dưới đây.

104. Các ngươi hãy bám vào sợi dây thanh lịch ¶74
 Đức Abdul-Baha đã nhắc tới ảnh hưởng của “sự trong sạch và thánh thiện, sự sạch sẽ và thanh lịch” đối với sự thăng tiến của “số phận con người” và “sự phát triển bản thể nội tại của con người”. Ngài dạy: “Sự kiện là một thân thể trong sạch và không tì vết ảnh hưởng tới tinh thần con người”. (Xin xem thêm chú thích 74.)

105. Các ngươi hãy rữa mọi vật vấy bẩn bằng nước không trải qua sự thay đổi nào bằng một trong ba cách¶74
 “Ba cách” được nêu trong câu thánh thi này là sự thay đổi màu, vị và mùi của nước. Đức Baha’u’llah đã cung cấp sự hướng dẫn thêm về nước trong sạch và nêu rõ nước ở tình trạng nào thì không dùng được (Vấn và Đáp 91).

106. Đấng Thượng Đế đã ... xóa bỏ quan niệm về “sự bất khiết” đối với một số vật và người đã bị xem là không trong sạch. ¶75
 Quan niệm về “sự bất khiết” trong nghi lễ được hiểu và thực hành trong một số xã hội, bộ lạc và trong một số cộng đồng tôn giáo thuộc những Kỳ Cứu độ trước đã được Đức Baha’u’llah xóa bỏ. Ngài dạy rằng qua Mặc khải của Ngài “mọi vật thọ tạo đều được dìm trong đại dương thanh tẩy”. (chú thích 12, chú thích 20 , chú thích 103.)

107. ngày đầu Thánh Lễ Ridvan ¶75
 Lời này nhắc tới sự đến nơi của Đức Baha’u’llah và các bạn hữu của Ngài tại vườn Najibiyyih ở ngoài thành phố Baghdad, sau đó được người Baha’i gọi là Vườn Ridvan. Biến cố này đã diễn ra ba mươi mốt ngày sau lễ Nawruz, vào tháng 4 năm 1863, báo hiệu sự bắt đầu thời gian trong đó Đức Baha’u’llah công bố Sứ mạng của Ngài trước các bạn hữu của Ngài. Trong một Kinh bản, Ngài nhắc tới sự Tuyên ngôn này như là “Ngày lạc phúc tối cao” và Ngài mô tả vườn Ridvan như là “Địa điểm từ đó Ngài chiếu rọi trên toàn thể tạo vật với vẻ huy hoàng của Danh Ngài, Đấng Đại Từ bi”. Đức Baha’u’llah trải qua mười hai ngày trong Ngôi Vườn này trước khi lên đường sang Istanbul, chốn lưu đày của Ngài.

 Tuyên ngôn của Đức Baha’u’llah được cử hành hàng năm trong mười hai ngày Thánh Lễ Ridvan, mà Đức Shoghi Effendi mô tả là “Thánh Lễ thiêng liêng nhất và có ý nghĩa nhất trong tất cả các Thánh Lễ Baha’i” (xem các chú thích 138 , chú thích 140).

108. Kinh Bayan ¶77
 Kinh Bayan, quyển Mẫu kinh của Thiên khải Babi được Đức Bab mặc khải trong hai phần, phần tiếng Batư và phần tiếng Á-rập. Đó là kho luật và lệnh của mặc khải Babi và nó chứa đựng phần lớn những lời nhắc nhở và ca ngợi “Đấng mà Thượng Đế sẽ biểu hiện” (Đức Baha’u’llah), Đấng sẽ xuất hiện theo sự tiên báo của Đức Bab. Trong sách God Passes By, Đức Shoghi Effendi chỉ ra rằng Kinh Bayan cần được xem “chủ yếu như là kinh tán dương Đấng Hứa hẹn hơn là kinh về luật và lệnh để làm kim chỉ nam vĩnh viễn cho các thế hệ mai sau”.

 Đức Abdul-Baha đã viết: “Kinh Bayan đã được thay thế bằng Kinh Kitab-i-Aqdas, ngoại trừ những luật đã được chuẩn nhận và nhắc đến trong Kinh Kitab-i-Aqdas”.

109. việc hủy bỏ các sách ¶77
 Trong Kinh bản Ishraqat của Đức Baha’u’llah, nói tới sự kiện rằng Đức Bab đã đặt luật trong Kinh Bayan tùy thuộc sự chuẩn nhận của Ngài, dạy rằng Ngài ban hiệu lực cho một số điều luật của Đức Bab “bằng cách thể hiện nó trong Kitab-i-Aqdas trong những ngôn từ khác”, trong khi Ngài bãi bỏ các luật khác.

 Về việc hủy bỏ các sách, Kinh Bayan truyền lệnh cho tín đồ của Đức Bab hủy bỏ tất cả các sách ngoại trừ những sách viết ra để bảo vệ Chánh nghĩa và Tôn giáo của Thượng Đế. Đức Baha’u’llah bãi bỏ luật đặc biệt này của Kinh Bayan.

 Về bản chất và độ tôn nghiêm của các điều luật trong Kinh Bayan, Đức Shoghi Effendi, trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, đã đưa ra lời bình như sau :

 Các luật và lệnh tôn nghiêm do Đức Bab mặc khải chỉ có thể hiểu và đánh giá đúng mức trong ánh sáng phát ngôn của chính Ngài về bản thể, mục đích và tính chất của Thiên khải của Ngài. Theo sự khải lộ rõ ràng của các phát ngôn này thì Thiên khải Babi chủ yếu có tính cách của một cuộc cách mạng tôn giáo và xã hội nữa, và vì vậy thời hạn của nó ngắn, nhưng đầy biến cố hùng tráng, của những cuộc cải cách ào ạt và chớp nhoáng. Những biện pháp ào ạt do Đức Bab và các tín đồ của Ngài thực thi đã làm sụp đổ nền móng của phái chính thống Shiih, và nhờ đó đã mở đường cho sự xuất hiện của Đức Baha’u’llah. Vừa khẳng định tính độc lập của một Thiên khải mới, vừa dọn đường cho sự xuất hiện Mặc khải của Đức Baha’u’llah, nên Đức Bab đã mặc khải những điều luật rất nghiêm nhặt, dù rằng phần lớn các luật ấy không hề được áp dụng. Nhưng riêng sự kiện Ngài mặc khải các luật ấy đã là bằng chứng về tính độc lập của Thiên khải của Ngài và cũng đủ để tạo nên sự dấy động sâu rộng, và khơi dậy sự chống đối nơi giới tăng lữ đã khiến họ gây ra sự tử đạo của Ngài.

110. Chúng Ta đã cho phép các ngươi đọc những khoa học có lợi cho các ngươi, chứ không phải những thứ kết thúc bằng sự tranh chấp vô bổ ¶77
 Các thánh thư Baha’i đòi hỏi phải thủ đắc kiến thức và nghiên cứu các ngành nghệ thuật và khoa học. Người Baha’i được khuyên bảo hãy tôn trọng những người học thức và thành đạt, và được cảnh cáo là không nên theo đuổi những ngành học chỉ đưa tới những tranh cãi vô ích.

 Trong các Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah khuyên dạy tín đồ nên nghiên cứu những ngành khoa học và nghệ thuật “hữu dụng” và thúc đẩy “sự tiến bộ và phát triển” của xã hội, và Ngài lưu ý nên tránh những ngành khoa học “bắt đầu và kết thúc bằng những lời lẽ suông” mà sự theo đuổi chỉ dẫn tới “tranh chấp vô bổ”. Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi ví các khoa học “bắt đầu và kết thúc bằng lời lẽ suông” với “những cuộc phiêu lưu vô ích trong việc chẻ nhỏ sợi tóc nặng tính siêu hình” và trong một bức thư khác, Ngài giải thích rằng điều Đức Baha’u’llah gọi là các “khoa học” đó chủ yếu là “những luận văn và bài bình giải thần học chỉ làm nghẽn tâm trí con người chứ không giúp đạt tới chân lý”.

111. Đấng hội thoại cùng Thượng Đế ¶80
 Đây là danh hiệu của Đức Moses theo truyền thống Do thái giáo và Hồi giáo. Đức Baha’u’llah dạy rằng với sự xuất hiện của Mặc khải của Ngài “tai của loài người đã có đặc ân nghe được điều mà Đấng hội thoại cùng Thượng Đế đã nghe trên núi Sinai”.

112. Sinai ¶80
 Ngọn núi nơi Thượng Đế mặc khải Luật Ngài cho Đức Moses.

113. Thánh linh của Thượng Đế ¶80
 Đây là một trong những danh hiệu được dùng trong các Thánh thư Hồi giáo và Baha’i để chỉ Chúa Jesus.

114. Carmel... Zion ¶80.
 Carmel, “Vườn nho của Thượng Đế”, là ngọn núi ở Thánh địa, nơi hiện có Thánh lăng của Đức Bab và có trụ sở của trung tâm quản trị thế giới của Chánh Đạo.

Zion là ngọn đồi ở Jerusalem, địa điểm truyền thống có ngôi mộ của Vua David, có tính tượng trưng cho Jerusalem là thành phố Thánh.

115. “Thuyền Đỏ thắm” ¶84
 “Thuyền Đỏ thắm” ý nói Chánh Đạo của Đức Baha’u’llah. Các tín đồ của Ngài được gọi là “Những người đồng hành trên Thuyền Đỏ thắm”, được Đức Bab ca ngợi trong Kinh Qayyumul-Asma.

116. Hỡi Hoàng Đế Áo quốc! Ngài là Đấng Bình minh Ánh sáng của Thượng Đế đã cư ngụ tại lao tù Akka khi mà ngươi thu xếp để viếng thăm Aqsa Mosque. ¶85
 Francis Joseph (Franz Joseph, 1830-1916), Hoàng Đế Áo quốc và Vua Hungary, hành hương đến Jerusalem năm 1869. Trong khi ở Thánh địa ông ta đã không nắm được cơ hội để tìm hiểu về Đức Baha’u’llah, lúc bấy giờ Ngài là người tù ở Akka (Acre).

 Aqsa Mosque có nghĩa là Đền thờ “Xa xôi Nhất”, được nhắc tới trong Kinh Quran, và được hiểu là Núi Đền thờ ở Jerusalem.

117. Hỡi vua Bá Linh! ¶86
 Kaiser William I (Wilhelm Fiedrich Ludwig, 1797-1888), Vua thứ 7 của nước Phổ, được tôn lên ngôi Hoàng đế đầu tiên của nước Đức vào tháng 1 năm 1871 ở Versailles nước Pháp, sau khi Đức thắng Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp -Phổ.

118. kẻ mà uy quyền vượt hẳn uy quyền của ngươi, mà cương vị cao trỗi hơn cương vị của ngươi ¶86.
 Đây là nhắc tới Napoleon III (1808 -1873), Hoàng Đế nước Pháp, được nhiều sử gia xem như vị vua lỗi lạc nhất đương thời ở Tây phương.

 Đức Baha’u’llah gởi cho Napoleon III hai Kinh bản, mà trong Kinh bản thứ hai, Ngài tiên tri rõ rằng, vương quốc của Napoleon sẽ bị “rơi vào hỗn loạn”, rằng “đế quốc sẽ thoát khỏi” tầm tay của ông ta, và nhân dân của ông ta sẽ nếm trải “sự biến động” lớn.

 Trong vòng một năm, Napoleon III bị thất trận nặng nề trước Kaiser William I, trong trận đánh Sedan năm 1870. Ông bị lưu đày sang Anh và chết ở đó vào ba năm sau.

119. Hỡi nhân dân Constantinople! ¶89
 Từ được dịch thành “Constantinople” trong nguyên bản là “Ar-Rum” hoặc “Rome”. Từ này thường được dùng ở Trung đông để chỉ Costantinople và Đế quốc La mã phương Đông, rồi để gọi Byzantium và đế quốc của nó, và cuối cùng là Đế quốc Ottoman.

120. Hỡi Địa điểm nằm trên bờ hai biển cả! ¶89
 Đây nói đến Constantinople, nay là Istanbul. Nằm trên bán đảo Bosporus, một eo biển dài khoảng 31 km nối liền Hắc hải và biển Marmara, đó là hải cảng và là thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ.

 Constatinople là Thủ đô của Đế quốc Ottoman từ 1453 đến 1922. Khi Đức Baha’u’llah lưu trú tại thành phố này, bạo chúa Abdul-Aziz đang trị vì. Các Hoàng đế Ottoman cũng là các vị Caliph, là những nhà lãnh đạo của Hồi giáo Sunni. Đức Baha’u’llah báo trước sự sụp đổ của chức Caliph, và đã xảy ra năm 1924.

121. Hỡi đôi bờ sông Rhine! ¶90
 Trong một Kinh bản viết trước Thế chiến I (1914-1918), Đức Abdul-Baha giải thích rằng Đức Baha’u’llah đề cập tới việc đã thấy đôi bờ sông Rhine “phủ đầy máu” là liên hệ tới Chiến tranh Pháp - Phổ (1870 -1871) và rằng còn có sự đau khổ nhiều hơn sẽ xảy đến.

Trong sách God Passes By, Đức Shoghi Effendi nêu lên rằng “hiệp ước áp bức nặng nề” áp đặt lên nước Đức sau khi thua trận trong Thế chiến I “đã khơi lên ‘tiếng than khóc của Bá linh’ mà nửa thế kỷ trước đã được tiên tri như điềm dữ”.

122. Hỡi vùng đất (tên là) Ta ¶91
 Ta là chữ đầu tiên của Tihran, thủ đô nước Iran. Đức Baha’u’llah thường nêu tên một số nơi bằng chữ đầu. Theo hệ thống số abjad, giá trị bằng số của Ta là chín, tức tương đương với giá trị bằng số của danh Baha.

123. nơi ngươi đã khai sinh Đấng Biểu hiện Vinh quang của Ngài ¶92
 Đây là nói về sự giáng sinh của Đức Baha’u’llah ở Tihran ngày 12 tháng 11 năm 1817

124. Hỡi vùng đất (tên là) Kha! ¶94
 Đây nhắc tới tỉnh Khurasan của Iran và các vùng lân cận, bao gồm cả thành phố Ishqabad (Ashkhabad).

125. Nếu một người có một trăm mithqal vàng, thì mười chín mithqal của số vàng đó thuộc về Thượng Đế và phải dâng lên Ngài ¶97
 Câu kinh này thiết lập Luật Huququllah, Quyền của Thượng Đế, tức là dâng một khoản nhất định trong giá trị tài sản của tín đồ. Việc hiến dâng này được Đức Baha’u’llah lập nên với tư cách Đấng Biểu hiện của Thượng Đế và sau khi Ngài thăng thiên, là đến Đức Abdul-Baha với tư cách Trung tâm Giao ước. Trong Chúc thư và Giao ước của Ngài, Đức Abdul-Baha qui định rằng khoản Huququllah phải dâng lên “qua Đấng Giáo hộ của Chánh Đạo Thượng Đế”. Hiện giờ không có Đức Giáo hộ, khoản này được dâng qua Tòa Công lý Quốc tế là thủ lĩnh của Chánh Đạo. Quỹ này được dùng để phát triển Chánh Đạo của Thượng Đế và các lợi ích của Chánh Đạo, cũng như cho các mục đích nhân đạo khác. Việc dâng khoản Huququllah là nghĩa vụ tâm linh, và việc hoàn thành nghĩa vụ này để tùy lương tâm mỗi người Baha’i. Trong khi cộng đồng được nhắc nhở về các yêu cầu của luật Huquq, không ai tiếp xúc với từng cá nhân để đòi trả khoản này.

 Một số mục trong phần Vấn và Đáp mở rộng thêm về luật này. Việc trả khoản Huququllah được căn cứ trên sự tính toán giá trị tài sản cá nhân. Nếu một người có tài sản giá trị ít nhất bằng mười chín mithqah vàng (Vấn và Đáp 8), người đó có nghĩa vụ tâm linh phải trả mười chín phần trăm của tổng số này, chỉ một lần, theo luật Huququllah (Vấn và Đáp 89). Sau đó, mỗi khi khoản thu nhập của một người, sau khi trả hết các khoản chi phí, có giá trị tài sản tăng lên ít nhất là mười chín mithqal vàng, người đó lại trả mười chín phần trăm của khoản tăng này, và cứ như thế tiếp tục cho mỗi lần tăng về sau (Vấn và Đáp 8 , Vấn và Đáp 90).

 Một số loại tài sản, như nhà ơ, được miễn trả khoản Huququllah (Vấn và Đáp 8, Vấn và Đáp 42 , Vấn và Đáp 95), và những điều khoản cụ thể được đề ra cho những trường hợp mất mát tài chính (Vấn và Đáp 44 , Vấn và Đáp 45), đầu tư không sinh lợi (Vấn và Đáp 102) và việc trả khoản Huquq khi người ta qua đời (Vấn và Đáp 9, Vấn và Đáp 69 , Vấn và Đáp 80). (Trong trường hợp sau cùng, xem chú thích 47.)

 Nhiều đoạn trích trong các Kinh bản, Vấn và Đáp, và các Thánh thư khác về ý nghĩa tâm linh của luật Huququllah và các chi tiết áp dụng được ấn hành trong tuyển tập nhan đề Huququllah.

126. Nhiều thư thỉnh cầu của các tín đồ, đã đến trước ngôi của Chúng Ta, liên quan đến luật pháp của Thượng Đế... Do đó, Chúng Ta đã mặc khải Kinh bản Thiêng liêng này và mặc cho nó chiếc áo Luật pháp của Ngài để dân chúng có thể tuân giữ các điều răn của Chúa mình. ¶98
 Đức Baha’u’llah viết trong một Kinh bản của Ngài rằng: “Trong một số năm, các thư thỉnh cầu về luật của Thượng Đế từ nhiều nước đã đến trước sự Hiện diện Tối Thiêng, nhưng Chúng Ta đã kềm giữ Ngòi bút cho đến thời điểm thiên định”. Mãi đến hai mươi năm sau từ lúc khai sinh Sứ mạng Tiên tri của Ngài trong hầm giam Siyah-Chal ở Tihran, Đức Baha’u’llah mới mặc khải Kitab-i-Aqdas, Kho chứa Luật pháp thuộc Kỳ Cứu độ của Ngài. Ngay cả sau khi mặc khải, Kinh Aqdas còn bị Ngài giữ lại ít lâu trước khi Kinh ấy được gởi đến các đạo hữu ở Iran. Sự trì hoãn có chủ tâm thiêng liêng trong việc mặc khải những luật căn bản của Thượng Đế trong thời đại này, và sự thực thi lần hồi các điều khoản của luật này, làm sáng tỏ nguyên lý mặc khải tiệm tiến ngay trong thánh triều của mỗi Đấng Tiên tri.

127. Vùng đỏ thắm ¶100
 Đây là nói tới thành phố lao tù Akka. Trong các Thánh thư Baha’i, từ “đỏ thắm” được dùng với nhiều nghĩa ẩn dụ và tượng trưng. (chú thích 115.)

128. Sadratul Muntaha ¶100
 Nghĩa đen là “Cây Liên hoa Xa nhất”, được Đức Shoghi Effendi dịch là: “Cây mà đằng sau nó không còn có lối đi”. Từ này được dùng như một biểu tượng trong Hồi giáo, chẳng hạn như trong đoạn tường thuật về Đêm Du hành của Đức Muhammad, để đánh dấu cái điểm trên các cõi trời mà cả con người và thiên thần không thể vượt qua trên đường tiến đến gần Thượng Đế, và như thế là để định giới hạn của tri thức thiêng liêng như đã được mặc khải cho nhân loại. Vì vậy từ này thường được dùng trong các Thánh thư Baha’i để chỉ chính Đấng Biểu hiện của Thượng Đế. (chú thích 164.)

129. Bộ Mẫu Kinh ¶103
 Thuật ngữ “Mẫu Kinh” thường được dùng để chỉ Bộ Kinh chính yếu của một Kỳ Cứu độ tôn giáo. Trong Kinh Quran và các sách sấm truyền Hồi giáo, từ này được dùng để chỉ chính Kinh Quran. Trong Thiên khải Babi, Kinh Bayan là Mẫu Kinh, và Kitab-i-Aqdas là Mẫu Kinh của Kỳ Cứu độ của Đức Baha’u’llah. Ngoài ra, trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Giáo hộ còn nêu lên rằng khái niệm này cũng có thể được dùng như “một thuật ngữ gộp chỉ toàn bộ các Giáo lý do Đức Baha’u’llah mặc khải”. Thuật ngữ này cũng được dùng trong một nghĩa rộng hơn để chỉ Kho Mặc khải Thiêng liêng.

130. Kẻ nào diễn giải những điều đã được truyền xuống từ thiên đàng Mặc khải và làm thay đổi ý nghĩa hiển nhiên của những điều đó ¶105
 Trong nhiều Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah xác định sự phân biệt giữa những câu kinh có tính ẩn dụ cần phải được giải thích, và những câu kinh liên hệ đến các chủ đề như luật và lệnh, các nghi lễ tôn giáo và thờ phượng, mà ý nghĩa thật hiển nhiên và đòi hỏi các tín đồ phải noi theo.

 Như đã giải rõ trong các chú thích 145 , chú thích 184, Đức Baha’u’llah chỉ định Đức Abdul-Baha, Trưởng nam của Ngài làm Người Kế vị và là Người Giải thích các giáo lý của Ngài. Đức Abdul-Baha sau đó lại chỉ định cháu lớn của Ngài, là Đức Shoghi Effendi, kế vị Ngài để giải thích các Thánh thư và là vị Giáo hộ của Chánh Đạo. Những điều giải thích của Đức Abdul-Baha và của Đức Shoghi Effendi được xem là có sự hướng dẫn thiêng liêng mà người Baha’i phải tuân theo.

 Sự tồn tại của các thẩm quyền giải thích không ngăn trở cá nhân chuyên tâm vào việc nghiên cứu Giáo lý và vì vậy đưa tới sự hiểu biết và giải thích theo cách riêng. Tuy nhiên, giáo lý Baha’i đã nêu ra sự phân biệt rõ rệt giữa sự giải thích có thẩm quyền và sự hiểu biết mà mỗi cá nhân đạt được do tự nghiên cứu giáo lý. Các sự giải thích của cá nhân dựa trên sự nghiên cứu riêng về Giáo lý là thành quả của lý trí con người, cũng có thể đóng góp to lớn vào sự hiểu biết Chánh Đạo. Tuy nhiên, các quan điểm đó không có thẩm quyền, các cá nhân được lưu ý không nên gạt bỏ thẩm quyền của lời thiên khải, không phủ nhận hoặc đối nghịch với sự giải thích có thẩm quyền, và không tạo ra sự mâu thuẫn, tốt hơn hết họ chỉ nên đưa ra các ý tưởng như là một sự đóng góp vào kho tri thức, tỏ rõ rằng các quan điểm của họ chỉ là quan điểm riêng của cá nhân.

131. đừng đến những hồ tắm công cộng kiểu Ba-tư¶106
 Đức Baha’u’llah cấm dùng những hồ tắm kiểu các nhà tắm công cộng theo truyền thống ở Ba-tư. Trong những nhà tắm này có thông lệ là nhiều người tắm chung trong một cái hồ và nước không được thay đều đặn. Do đó, nước đổi màu, nhiểm bẩn, mất vệ sinh và có mùi hôi rất khó chịu.

132. Các ngươi cũng phải xa lánh những hồ tắm hôi hám trong sân những nhà Ba-tư ¶106
 Phần lớn các nhà ở Ba-tư thường có hồ ở trong sân có công dụng như bể chứa nước dùng cho việc rữa giặt và các mục đích gia dụng khác. Về nước trong hồ bị ứ đọng và thường mất nhiều tuần chưa thay một lần, nên có mùi rất khó chịu.

133. Các ngươi bị cấm kết hôn với những người vợ của cha mình. ¶107
 Việc kết hôn với mẹ kế là điều bị cấm rõ ràng trong câu kinh này. Điều cấm này cũng áp dụng cho việc kết hôn với cha kế. Ở chỗ nào Đức Baha’u’llah phát biểu một điều luật giữa một người đàn ông và một người đàn bà, thì luật ấy cũng áp dụng với sự sửa đổi thích đáng (mutatis mutandis) giữa đàn bà và đàn ông, chỉ trừ trường hợp nội dung câu kinh cho thấy điều này không thể thực hiện được.

 Đức Abdul-Baha và Đức Shoghi Effendi xác nhận rằng, trong khi các bà mẹ kế chỉ là một loại thân nhân nêu trong kinh, điều này không có nghĩa rằng mọi sự phối hợp khác trong gia đình là được phép. Đức Baha’u’llah dạy rằng Tòa Công lý sẽ lập quy “về tính hợp pháp hay không của việc kết hôn với người trong thân tộc”, (Vấn và Đáp 50). Đức Abdul-Baha viết rằng giữa vợ chồng càng liên hệ xa về máu mủ càng tốt, bởi vì những cuộc hôn nhân như thế tạo nền tảng cho sự lành mạnh thể chất của nhân loại và dẫn tới tình thân hữu giữa loài người.

134. đề tài về lũ con trai ¶107
 Từ được dịch ra đây là “lũ con trai”, trong nội dung này, nơi nguyên gốc Á-rập, ý nói thói đồng dâm nam. Đức Shoghi Effendi giải thích điều nhắc nhở này là cấm tất cả mọi quan hệ đồng tính luyến ái.

 Giáo lý Baha’i về đạo đức tính dục tập trung vào hôn nhân và gia đình như là nền móng của toàn cấu trúc xã hội loài người, và có chủ đích bảo vệ và củng cố cơ cấu thiêng liêng ấy. Bởi vậy luật Baha’i chỉ nhìn nhận sự giao hợp hợp pháp giữa người đàn ông và người đàn bà mà người ấy đã cưới làm vợ.

 Trong một bức thư viết theo lệnh Đức Shoghi Effendi, Ngài có lời dạy là :
Bất kể tình yêu giữa hai người cùng phái là tinh tế và chân thành ra sao, thì biểu lộ bằng hành động tình dục cũng là sái quấy. Không có cớ nào để cho đó là điều lý tưởng. Đức Baha’u’llah nghiêm cấm tất cả các hình thức vô luân, và quan hệ đồng tính luyến ái bị Ngài liệt vào loại vô luân đó, chưa kể nó là điều phản tự nhiên. Bị nhiễm thói tật này là một gánh nặng to lớn đối với linh hồn sáng suốt. Nhưng nhờ lời chỉ dẫn và sự giúp đỡ của các bác sĩ, nhờ nỗ lực mạnh mẽ và quyết tâm, nhờ sự cầu nguyện, một linh hồn có thể lướt thắng khuyết tật này.

 Đức Baha’u’llah đã dành cho Tòa Công lý Quốc tế quyền quyết định hình phạt đối với tội ngoại tình và tà dâm tùy theo mức độ sai phạm (Vấn và Đáp 49).

135. Không ai được phép đọc lảm nhảm những câu thánh thi trước cái nhìn của công chúng khi đang đi giữa phố phường hay giữa chợ ¶108
 Đây là ám chỉ tập quán của một số giới tu sĩ và lãnh đạo tôn giáo trong các Kỳ Cứu độ trước, do thói đạo đức giả và tính màu mè, nhằm thu hút sự ca tụng của tín đồ, họ cầu nguyện rì rầm ở nơi công cộng như để biểu lộ lòng sùng kính của họ. Đức Baha’u’llah cấm hành vi ấy và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự khiêm cung và lòng thành kính sâu xa đối với Thượng Đế.

136. Mọi người đều phải viết chúc thư. ¶109
 Theo giáo lý của Đức Baha’u’llah, mỗi cá nhân có bổn phận phải viết chúc thư, và được tự do định đoạt tài sản của mình tùy thích (chú thích 38).

 Đức Baha’u’llah xác nhận rằng khi lập chúc thư “mỗi người có trọn quyền đối với tài sản của mình”, vì Thượng Đế đã cho phép cá nhân “sử dụng những gì Thượng Đế đã ban cho theo bất cứ cách nào người ấy muốn” (Vấn và Đáp 69). Các điều khoản nêu ra trong Kitab-i-Aqdas là để phân chia di sản thừa kế trong trường hợp không có chúc thư. (Xem các chú thích 38 , chú thích 48.)

137. Tối Đại Danh ¶109
 Như đã được giải thích trong chú thích 33, Tối Đại Danh của Thượng Đế có thể có nhiều dạng, tất cả đều căn cứ trên từ “Baha”. Người Baha’i ở Phương Đông đã thực thi phán lệnh này trong Kinh Aqdas bằng cách mở đầu chúc thư bằng câu : “Lạy Ngài là Đấng Vinh quang của Đấng Toàn vinh”, “Nhân danh Thượng Đế, Đấng Toàn vinh” hoặc “Ngài là Đấng Toàn vinh”, và vân vân...

138. Tất cả các Thánh lễ đều đạt tới tột đỉnh trong hai Lễ hội Lớn Nhất, và trong hai Lễ hội khác rơi vào những ngày kép ¶110
 Đoạn này thiết lập bốn Lễ hội lớn nhất trong năm Baha’i. Hai Thánh Lễ được Đức Baha’u’llah chỉ định là “Hai Lễ hội Lớn Nhất” là, thứ nhất, Thánh lễ Ridvan, kỷ niệm Tuyên ngôn của Đức Baha’u’llah về Sứ mạng Tiên tri của Ngài trong vườn Ridvan ở Baghdad suốt mười hai ngày trong tháng Tư, tháng Năm, năm 1863 và được Ngài gọi là “Vua của các Thánh Lễ”, và thứ hai, là Tuyên ngôn của Đức Bab, diễn ra vào tháng Năm, năm 1844 ở Shiraz. Ngày thứ nhất, thứ chín và thứ mười hai của lễ Ridvan đều là Thánh lễ (Vấn và Đáp 1), và Tuyên ngôn của Đức Bab cũng vậy.

“Hai Lễ hội khác” là Ngày Giáng sinh của Đức Baha’u’llah và Ngày Giáng sinh của Đức Bab. Theo âm lịch của Hồi giáo những ngày này theo thứ tự như sau, Lễ Giáng sinh Đức Baha’u’llah nhằm vào ngày thứ hai tháng Muharram 1233 A.H. (12-11-1817), Lễ Giáng sinh Đức Bab nhằm ngày thứ nhất cũng tháng ấy năm 1235 A.H. (20-10-1819). Những ngày ấy được nhắc tới như là “Lễ Giáng sinh Song hành”, và Đức Baha’u’llah dạy rằng hai ngày này được xem như một trước mắt Thượng Đế (Vấn và Đáp 2). Ngài dạy rằng, nếu hai ngày này rơi vào tháng chay, thì luật giữ chay không áp dụng vào các ngày này (Vấn và Đáp 36). Biết rằng lịch Baha’i (chú thích 26 , chú thích 147) là dương lịch, nhưng còn tùy Tòa Công lý Quốc tế quyết định các Thánh Lễ Giáng sinh Song hành này sẽ cử hành trên căn bản âm lịch hay dương lịch.

139. ngày thứ nhất tháng Baha ¶111.
Trong lịch Baha’i tháng thứ nhất của năm và ngày thứ nhất của tháng đều được đặt tên là “Baha”. Như thế ngày Baha của tháng Baha là Năm Mới Baha’i, là Naw-Ruz, đã được Đức Bab ấn định là ngày Lễ hội và được Đức Baha’u’llah xác nhận ở đây (chú thích 26 , chú thích 147).

Ngoài bảy Ngày Thánh Lễ được qui định trong các đoạn này của Kinh Kitab-i-Aqdas, ngày tưởng niệm sự Tử đạo của Đức Bab cũng được cử hành như một ngày Thánh Lễ hồi sinh thời của Đức Baha’u’llah, và cùng với Lễ này, Đức Abdul-Baha đã thêm vào việc cử hành Thánh Lễ Thăng thiên của Đức Baha’u’llah, tất cả hợp thành chín Thánh Lễ. Hai ngày lễ khác được cử hành, nhưng không phải nghỉ làm việc, đó là Ngày giao ước và Ngày Kỷ niệm Đức Abdul-Baha Thăng thiên. Xem thêm phần về Niên lịch Baha’i trong sách “Thế giới Baha’i”, bộ XVIII.

140. Hẳn nhiên, Lễ hội Lớn Nhất là Vua của các Lễ hội ¶112.
Đây nhắc tới Thánh Lễ Ridvan (xem các chú thích 107 , chú thích 138).

141. Trước đây Thượng Đế đã ấn định cho mỗi tín đồ cái bổn phận dâng lên trước ngôi của Chúng Ta những vật phẩm vô giá thuộc tài sản của họ. Nay... Chúng Ta miễn cho các tín đồ cái bổn phận này. ¶114
Đoạn này hủy bỏ một điều khoản trong Kinh Bayan qui định rằng mọi vật quí nhất thuộc từng loại, khi Đấng mà Thượng Đế sẽ biểu hiện xuất hiện thì nên dâng lên Đấng ấy. Đức Bab giải thích rằng, vì Đấng Biểu hiện của Thượng Đế là bất khả tỉ, cho nên bất cứ vật gì quí nhất trong từng loại thì đúng ra phải dành cho Ngài, trừ phi Ngài chỉ dụ khác đi.

142. lúc rạng đông ¶115
Khi nhắc tới việc tham dự lễ cầu nguyện lúc rạng đông trong Mashriqul Adhkar, tức Đền thờ Baha’i, Đức Baha’u’llah đã giải thích rằng, dù thời gian thực sự qui định trong Thánh kinh của Thượng Đế là “lúc rạng đông”, nhưng có thể chấp nhận bất cứ lúc nào từ “giờ sớm nhất trong ngày, giữa rạng đông và mặt trời mọc, hoặc cho đến hai giờ sau khi mặt trời mọc” (Vấn và Đáp 15).

143. Các Kinh bản này đã được điểm tô bằng dấu ấn của Ngài là Đấng làm cho buổi bình minh xuất hiện, là Đấng cất cao giọng nói của Ngài ở giữa các cõi trời và cõi đất. ¶117
Đức Baha’u’llah nhiều lần khẳng định tính nhất thể tuyệt đối của các Thánh thư của Ngài chính là Lời của Thượng Đế. Một số Kinh bản của Ngài có mang dấu ấn của Ngài. Sách “Thế giới Baha’i”, bộ V trang 4, có bức ảnh chụp các con dấu của Đức Baha’u’llah.

144. Con người, vốn được phú bẩm trí khôn, không được phép dùng thứ gì khiến trí khôn bị hủy hoại. ¶119
Có nhiều nơi trong Kinh sách Baha’i cấm dùng rượu và các chất gây say khác và đã mô tả hậu quả làm thoái hóa của các chất gây say ấy đối với cá nhân. Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Baha’u’llah dạy:

Hãy lưu ý kẻo các ngươi đem Rượu của Thượng Đế đi đổi lấy rượu của các ngươi, vì nó sẽ làm đần độn trí óc các ngươi, và khiến mặt các ngươi rời xa Thánh nhan của Thượng Đế, Đấng Toàn vinh, Đấng Vô song, Đấng Tối cao. Chớ gần gũi nó, vì nó đã bị cấm đối với các ngươi bởi phán lệnh của Thượng Đế, Đấng Chí tôn, Đấng Toàn năng.

Đức Abdul-Baha giải thích rằng Kinh Aqdas cấm “cả rượu nhẹ và rượu nặng”, và Ngài dạy rằng lý do để cấm dùng thức uống có rượu vì “rượu đưa trí óc tới chỗ lầm lạc và làm cơ thể suy yếu”.

Đức Shoghi Effendi, trong những bức thư viết theo lệnh Ngài, dạy rằng sự cấm đoán này không những chỉ gồm việc dùng rượu mà cấm cả “mọi thứ làm xáo trộn tâm trí”, và Ngài giải rõ rằng rượu chỉ được phép dùng khi nó hợp thành thành phần trị liệu “theo sự chỉ dẫn của y sĩ giỏi và có lương tâm, người này có thể dùng nó để chữa trị một chứng bệnh đặc biệt”.

145. các ngươi hãy hướng về Đấng đã được Thượng Đế chỉ định, Đấng đâm cành từ Rễ Xưa ¶121
Ở đây Đức Baha’u’llah nhắc tới Đức Abdul-Baha như là Đấng Kế vị Ngài và kêu gọi các tín đồ hướng về Đức Abdul-Baha. Trong Kinh Giao ước, tức Chúc thư và Giao ước của Ngài, Đức Baha’u’llah tiết lộ chủ tâm của Ngài về câu kinh này. Ngài phán: “Đối tượng của câu thánh thi này chính là Cành Hùng mạnh Nhất”. Cành Hùng mạnh Nhất là một tước hiệu mà Đức Baha’u’llah ban cho Đức Abdul-Baha. (Xem thêm chú thích 66 , chú thích 184.)

146. Trong Kinh Bayan các ngươi đã bị cấm nêu câu hỏi lên Chúng Ta. ¶126
Đức Bab cấm các tín đồ của Ngài hỏi về Đấng mà Thượng Đế sẽ biểu hiện (tức Đức Baha’u’llah), trừ phi họ trình câu hỏi bằng văn viết và liên quan tới những đề tài xứng đáng với cương vị cao cả của Ngài. Hãy xem Trích tuyển từ các Thánh thư của Đức Bab.

Đức Baha’u’llah đã hủy bỏ lệnh cấm này của Đức Bab. Ngài kêu gọi tín đồ cứ nêu những câu hỏi mà họ thấy “cần hỏi”, và Ngài lưu ý họ nên hạn chế việc nêu ra “những câu hỏi vô bổ” thuộc loại “mà con người thuộc các thời đại trước” hay bận tâm.

147. Số tháng trong năm, được ấn định trong Thánh kinh của Thượng Đế là mười chín. ¶127
Năm Baha’i, dựa theo lịch Badi, gồm mười chín tháng, với mỗi tháng mười chín ngày, cộng thêm một số ngày dư (bốn ngày vào những năm thường, và năm ngày vào năm nhuận) giữa tháng thứ mười tám và tháng thứ mười chín để điều chỉnh lịch theo năm mặt trời. Đức Bab đặt tên các tháng bằng một số đặc tính của Thượng Đế. Năm Mới Baha’i, tức Naw-Ruz, được định theo thiên văn trùng với Xuân phân vào tháng Ba (chú thích 26). Muốn biết thêm chi tiết, kể cả tên các ngày trong tuần và tên các tháng, hãy xem phần nói về Niên lịch Baha’i trong sách Thế giới Baha’i, bộ XVIII.

148. tháng thứ nhất được tô điểm bằng Danh này là Danh che phủ tất cả tạo vật ¶127
Trong Kinh Bayan tiếng Ba-tư, Đức Bab đã ban danh “Baha” cho tháng thứ nhất trong năm (chú thích 139).

149. Đấng Chúa truyền phán rằng người chết nên được chôn trong hòm ¶128
Trong Kinh Bayan, Đức Bab qui định rằng người chết nên được chôn trong hòm bằng thủy tinh hoặc bằng đá mài bóng. Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi giải thích rằng ý nghĩa của điều khoản này là để tỏ lòng tôn kính đối với thân xác bởi nó từng “được nêu cao bởi linh hồn bất diệt của con người”.

Tóm lại, luật Baha’i về việc mai táng người chết dạy rằng không được phép chở xác đi quá một giờ đồng hồ kể từ nơi chết, rằng thi thể nên được liệm bằng lụa hoặc vải và trên ngón tay nên đeo chiếc nhẫn có mang dòng chữ: “Con đến từ Thượng Đế và trở về cùng Ngài, dứt bỏ mọi sự ngoài Ngài, bám chặt vào Danh Ngài, Đấng Khoan dung, Đấng Từ bi”, và hòm nên làm bằng thủy tinh, bằng đá, bằng gỗ cứng loại tốt. Kinh đặc biệt dành cho Người qui tịch (chú thích 10) được truyền là phải đọc trước khi chôn. Đức Abdul-Baha và Đức Giáo hộ cũng khẳng định rằng luật này cấm thiêu xác người chết. Kinh cầu nguyện chính thức và nhẫn chỉ áp dụng cho những người thành niên, tức mười lăm tuổi (Vấn và Đáp 70).

Về vật liệu để làm hòm, theo tinh thần của luật là hòm nên làm bằng vật liệu càng bền càng tốt. Vì thế, Tòa Công lý Quốc tế đã giải thích rằng, ngoài những vật liệu được nêu rõ trong Kinh Aqdas, không có sự ngăn cấm nào trong việc dùng gỗ rắn nhất hoặc dùng bê-tông để đúc hòm. Hiện giờ, người Baha’i được tự do lựa chọn trong vấn đề này.

150. Đấng Điểm của Kinh Bayan ¶129
“Đấng Điểm của Kinh Bayan” là một tước hiệu mà Đức Bab tự tôn xưng.

151. người chết phải được liệm trong năm tấm lụa hoặc vải ¶130.
Trong Kinh Bayan, Đức Bab qui định rõ rằng người chết phải được quấn trong năm tấm lụa hoặc vải. Đức Baha’u’llah chuẩn nhận điều khoản này và thêm vào lời qui định rằng “đối với những người có phương tiện hạn hẹp thì một tấm thuộc các loại hàng này cũng đủ”.

Khi được hỏi “năm tấm” nêu trong luật là “năm tấm liệm dài toàn thân” hay là “năm tấm vải mà người ta thường dùng theo tục lệ xưa nay”, Đức Baha’u’llah Đáp rằng chủ tâm là “dùng năm tấm vải” (Vấn và Đáp 56).

Về cách liệm xác, trong các Thánh thư Baha’i không qui định rõ xác phải được quấn vải như thế nào, cả trong trường hợp dùng “năm tấm vải” cũng như trong trường hợp “chỉ một tấm”. Hiện nay, người Baha’i được tự do dùng sự phán đoán riêng trong vấn đề này.

152. Xác người chết bị cấm chở ra xa thành phố quá một tiếng đồng hồ ¶130
Chủ đích của phán lệnh này là giới hạn sự đi xa quá một giờ, bất kể loại phương tiện chuyên chở được chọn để đưa xác người chết tới nơi an táng. Đức Baha’u’llah xác nhận rằng việc chôn cất diễn ra càng sớm “càng thích hợp và được chấp nhận” (Vấn và Đáp 16).

Nơi người chết qua đời là một thành phố hoặc thị trấn, và vì vậy một giờ hành trình được tính từ ranh giới thành phố cho tới nơi chôn cất. Tinh thần luật của Đức Baha’u’llah là muốn cho người chết được chôn ở gần nơi người ấy qua đời.

153. Thượng Đế đã xóa bỏ những hạn chế về du lịch được ấn định trong Kinh Bayan. ¶131
Đức Bab đã qui định một số hạn chế về du lịch có hiệu lực cho đến khi Đấng Hứa hẹn của Kinh Bayan giáng thế, lúc bấy giờ các tín đồ được dạy bảo là hãy lên đường, dù là đi bộ, để gặp Đấng Hứa hẹn ấy, vì đạt tới sự hiện diện của Ngài là thành quả và mục đích của chính cuộc đời họ.

154. Hãy dựng lên và tôn vinh hai Tòa nhà trong Chốn Thiêng liêng Song lập, và những thắng tích khác trong đó ngôi của Chúa các ngươi... được thiết lập. ¶133
Đức Baha’u’llah xác định “hai Tòa nhà” là Nhà của Ngài ở Baghdad, được Ngài đặt danh hiệu là “Thánh thất Lớn Nhất”, và Nhà của Đức Bab ở Shiraz, cả hai được Ngài ấn định là nơi hành hương. (Xem Vấn và Đáp 29, Vấn và Đáp 32 và chú thích 54.)

Đức Shoghi Effendi giải thích rằng “những thắng tích khác trong đó ngôi của Chúa các ngươi... được thiết lập” là chỉ những nơi mà chính Đấng Biểu hiện của Thượng Đế đã ở. Đức Baha’u’llah dạy rằng “dân chúng ở các vùng có những thánh tích này có thể chọn bảo tồn từng ngôi nhà” trong đó Ngài đã ở, “hoặc chỉ một trong các ngôi nhà đó” (Vấn và Đáp 32). Các cơ cấu Baha’i đã xác lập, lưu hồ sơ, và tu bổ một số thắng tích lịch sử liên hệ tới hai Đấng Biểu hiện.

155. Hãy lưu ý kẻo các ngươi bị ngăn trở bởi bất cứ điều gì không được ghi trong Thánh kinh, khiến các ngươi không nghe được Ngài, là Thánh kinh Hằng Sống¶134
“Thánh kinh” là sách ghi Lời thiên khải của Đấng Biểu hiện của Thượng Đế. “Thánh kinh Hằng sống” ý nói chính Bản thân Đấng Biểu hiện.

Những thánh ngôn này chứa đựng ý nghĩa lời công bố của Đức Bab trong Kinh Bayan bằng tiếng Ba-Tư về “Thánh kinh Hằng sống”, tức Ngài muốn nói về Đấng mà Thượng Đế sẽ biểu hiện. Trong một Kinh bản của Ngài, chính Đức Baha’u’llah cũng đã phán: “Thánh kinh của Thượng Đế đã được ban xuống trong nhân dạng của người Thanh niên này”.

Trong câu thánh thi này của Kinh Aqdas, và rồi trong đoạn 168 cũng của Kinh Aqdas, Đức Baha’u’llah đã nhắc đến chính Ngài như là “Thánh kinh Hằng sống”. Ngài lưu ý “tín đồ của mọi tôn giáo khác” đừng tìm “lý lẽ trong các Thánh kinh của họ” để bác bỏ lời phán của “Thánh kinh Hằng sống”. Ngài khuyên dân chúng đừng để cho những gì đã được ghi trong “Thánh kinh” ngăn trở họ nhận biết Cương vị của Ngài và ngăn họ bám chắc vào điều gì thuộc về Mặc khải mới này.

156. để tôn vinh Mặc khải này, từ Ngòi bút của Ngài là Đấng Tiền phong của Ta ¶135
“Sự tôn vinh” mà Đức Baha’u’llah nhắc đến trong đoạn này lấy từ Kinh Bayan bằng tiếng Á-rập.

157. Hẳn nhiên, Qiblih (Điểm thờ phượng) chính là Đấng mà Thượng Đế sẽ cho biểu hiện; mỗi khi Ngài di chuyển điểm ấy di chuyển theo, cho đến khi Ngài yên nghỉ. ¶137
Để thảo luận về câu thánh thi này, hãy xem chú thích 7 , chú thích 8.

158. Kết hôn với một người không phải tín đồ Kinh Bayan là bất hợp pháp. Nếu chỉ một bên trong cuộc hôn nhân chấp nhận Chánh Đạo, thì tài sản của người này sẽ là bất hợp pháp đối với người kia ¶139
Đoạn Kinh Bayan mà Đức Baha’u’llah trích ra đây gây sự chú ý cho các tín đồ về sự xuất hiện sắp đến của “Đấng mà Thượng Đế sẽ cho biểu hiện”. Việc cấm kết hôn với người không phải là Babi và điều khoản qui định rằng tài sản của người chồng hoặc người vợ chấp nhận Chánh đạo không thể chuyển một cách hợp pháp cho người hôn phối không phải là Babi đã được Đức Bab nêu ra rõ ràng, và sau đó Đức Baha’u’llah đã hủy bỏ các điều này trước khi nó được áp dụng. Khi trích dẫn luật này, Đức Baha’u’llah nêu lên sự kiện rằng, khi Mặc khải điều ấy, Đức Bab đã thấy rõ khả năng là Chánh Đạo của Đức Baha’u’llah sẽ được tôn trọng trước hơn Chánh Đạo của chính Đức Bab.

Trong sách God Passes by (Thượng Đế vừa đi qua), Đức Shoghi Effendi đã chỉ ra rằng Kinh Bayan “chủ yếu sẽ được xem như kinh ngợi ca Đấng Hứa hẹn hơn là quyển kinh về luật và lệnh nhằm hướng dẫn vĩnh viễn các thế hệ mai sau”. Ngài viết tiếp: “Cực kỳ nghiêm khắc trong các qui tắc và định chế nêu ra, cách mạng triệt để trong các nguyên lý thiết lập, nhằm đánh thức giới tăng lữ và công chúng khỏi cơn mê lịm lâu đời, và tung ra đòn triệt phá quyết liệt đối với các cơ cấu suy bại và lỗi thời, Kinh Bayan công bố, bằng những điều khoản cực mạnh của nó, sự xuất hiện của Ngày mong đợi, Ngày mà Đấng Kêu gọi sẽ kêu gọi về một trách vụ gay go, khi Đấng ấy sẽ triệt hạ bất cứ cái gì đã có trước mắt Ngài, như thể Đấng Tông đồ của Thượng Đế triệt hạ lề thói của những ai đến trước Ngài.” (Xem thêm chú thích 109).

159. Đấng Điểm của Kinh Bayan ¶140
Một tước hiệu của Đức Bab.

160. Quả thực, không có Thượng Đế nào khác ngoài Ta¶143
Trong Kinh sách Baha’i có nhiều đoạn nêu rõ bản thể Đấng Biểu hiện của Thượng Đế và mối liên hệ giữa Đấng ấy với Thượng Đế. Đức Baha’u’llah nhấn mạnh tính chất độc nhất và thoát tục của Thượng Đế Chí tôn. Ngài giải thích rằng “vì không có mối dây liên hệ trực tiếp nào để gắn bó Đấng Thượng Đế chân chính duy nhất với tạo vật của Ngài” nên Thượng Đế đã thiết định rằng “trong mỗi thời đại và mỗi Kỳ Cứu độ, một Linh hồn trong sạch và không tì vết sẽ được cho biểu hiện trong các vương quốc ở dưới đất và trên trời”. “Nhân vật huyền bí và thanh thoát” này, tức Đấng Biểu hiện của Thượng Đế, có một bản chất người thuộc về “thế giới vật chất” và một bản chất tâm linh “sinh ra từ bản thể của chính Thượng Đế”. Đấng ấy cũng được phú bẫm một “cương vị song lập”.

Cương vị thứ nhất, liên hệ với bản thể sâu xa nhất của Ngài, tỏ rõ Ngài là Đấng nói tiếng nói của chính Thượng Đế...

Cương vị thứ hai là cương vị con người, được biểu lộ bằng các câu thánh thi sau đây: “Ta cũng là một người như các ngươi”. “Này, Đấng Chúa của Ta thật đáng ca ngợí! Ta há là gì hơn một con người, một tông đồ?”

Đức Baha’u’llah cũng xác nhận rằng, trong cõi tâm linh, có sự “thống nhất tất yếu” giữa tất cả các Đấng Biểu hiện của Thượng Đế. Tất cả các Ngài đều khải lộ “vẻ Mỹ lệ của Thượng Đế”, biểu hiện các danh và các đặc tính của Ngài, và phát ngôn Mặc khải của Ngài. Về phương diện này, Đức Baha’u’llah phán:

Nếu có Đấng Biểu hiện toàn năng nào của Thượng Đế tuyên bố “Ta là Thượng Đế”, thì quả thực, Đấng ấy đã nói sự thực và không có chút gì đáng hoài nghi. Vì sự thực này đã được chứng minh nhiều lần rằng bởi Mặc khải của các Đấng ấy, bởi các danh và các đặc tính của các Đấng ấy, mà Mặc khải của Thượng Đế, các danh và các đặc tính của Ngài, được biểu hiện trên thế giới...

Trong khi các Đấng biểu hiện khải lộ các danh và các đặc tính của Thượng Đế, và là phương tiện nhờ đó nhân loại đạt tới sự hiểu biết về Thượng Đế và về Mặc khải của Ngài, Đức Shoghi Effendi dạy rằng các Đấng biểu hiện sẽ “không bao giờ... được coi là đồng nhất với Bản thể vô hình ấy, tức Bản thể của Thần tính”. Còn về Đức Baha’u’llah, Đức Giáo hộ viết rằng “đền thờ nhân thân hằng là phương tiện truyền đạt Mặc khải hùng vĩ ấy” không được xem là đồng nhất thể với “Bản thể” của Thượng Đế.

Về tính độc nhất của cương vị Đức Baha’u’llah và về sự vĩ đại của Mặc khải Ngài, Đức Shoghi Effendi xác nhận rằng những lời công bố có tính tiên tri liên quan đến “Ngày của Thượng Đế”, ghi trong Thánh thư của những Kỳ Cứu độ đã qua, đều đã hoàn thành do sự giáng lâm của Đức Baha’u’llah:

Đối với Israel, Ngài chính là hiện thân của “Đấng Cha hằng hữu”, “Đấng Chúa các Cơ binh”, giáng thế “với mười ngàn chư thánh”; đối với thế giới Thiên Chúa giáo, Ngài là Đấng Christ tái lâm “trong vinh quang của Đức Chúa Cha”; đối với Hồi giáo Shiah, Ngài là sự trở lại của Imam Husayn; đối với Hồi giáo Sunni, Ngài là sự giáng thế của “Linh Thượng Đế” (tức Đức Jesus Christ); đối với người Bái hỏa giáo, Ngài là Đấng Shah Bahram được hứa hẹn; đối với người Ấn độ giáo, Ngài là sự tái sinh của Đức Krishna; đối với các Phật tử, Ngài là Đức Phật thứ năm.

Đức Baha’u’llah mô tả cương vị của “Thần tính” mà Ngài san sẻ với tất cả các Đấng Biểu hiện của Thượng Đế như là:

... cương vị trong đó con người chết đi và sống trong Thượng Đế. Mỗi khi Ta nhắc tới Thần tính, thì Thần tính nói lên sự xả kỷ trọn vẹn và tuyệt đối của Ta. Đây là cương vị trong đó Ta không còn làm chủ ý muốn và nguyện vọng của Ta về đời sống của Ta hoặc về sự phục sinh của Ta.

Và về mối liên hệ của chính Ngài với Thượng Đế, Ngài chứng nhận:

Lạy Thượng Đế của con, khi con chiêm nghiệm mối liên hệ gắn bó con với Ngài, con được thôi thúc phải công bố cùng tất cả tạo vật “quả thực, Ta là Thượng Đế”; và khi suy xét chính bản thân con, con thấy nó còn thô kệch hơn đất sét!

161. trả khoản Zakat ¶146
Zakat được nhắc tới trong Kinh Quran là một hành vi từ thiện thường xuyên có tính bắt buộc đối với người Hồi giáo. Theo thời gian quan niệm này tiến hóa thành một dạng thuế từ thiện đặt ra nghĩa vụ hiến dâng một số khoản thu nhập cố định, vượt khỏi giới hạn qui định để cứu trợ người nghèo, để dùng vào những mục đích từ thiện khác, và để giúp vào Chánh đạo của Thượng Đế. Giới hạn đặc miễn thay đổi đối với các hàng hóa khác nhau, cũng như số phần trăm phải trả dựa trên phần đánh giá được.

Đức Baha’u’llah dạy rằng luật Baha’i về Zakat y theo “điều đã được Mặc khải trong Kinh Quran”. (Vấn và Đáp 107). Vì những vấn đề như giới hạn đặc miễn, các loại thu nhập liên hệ, định kỳ trả thuế, mức giá biểu cho các loại Zakat khác nhau không được nêu rõ trong Kinh Quran, những vấn đề này sẽ được Tòa Công lý Quốc tế qui định trong tương lai. Đức Shoghi Effendi đã chỉ rõ rằng trong khi chờ lập qui, các tín đồ nên đóng góp thường xuyên vào Quĩ Baha’i, tùy phương tiện và khả năng của mình.

162. Ăn xin là bất hợp pháp, và việc bố thí cho người ăn xin cũng bị cấm. ¶147
Trong một Kinh bản, Đức Abdul-Baha giải thích ý nghĩa của câu thánh thi này. Ngài dạy rằng “sự ăn xin bị cấm và rằng bố thí từ thiện cho những người lấy việc ăn xin làm nghề nghiệp cũng bị cấm”. Cũng trong Kinh bản ấy, Ngài chỉ ra rằng: “Mục đích là xóa hẳn nạn hành khất. Tuy nhiên, nếu một người không thể kiếm sống, bị dày vò bởi sự nghèo túng hoặc trở nên bơ vơ, thì những người giàu hoặc những Đại biểu phải cung cấp phụ bổng hằng tháng để người ấy sinh sống... Các ‘Đại biểu’ ở đây ý nói những người đại diện nhân dân, tức là các ủy viên Tòa Công lý”.

Lệnh cấm bố thí từ thiện cho những người ăn xin không ngăn cản các cá nhân và các Hội đồng Tinh thần trợ giúp tài chánh cho những người nghèo khổ và thiếu thốn hoặc tạo cho họ cơ hội học nghề chuyên môn để giúp họ kiếm sống (chú thích 56).

163. Trước kia đã qui định khoản phạt... đối với ai tạo sự buồn phiền cho người khác ¶148
Đức Baha’u’llah đã hủy bỏ luật của Kinh Bayan bằng tiếng Ba-tư về việc trả khoản phạt để đền bù cho việc gây buồn phiền cho kẻ láng giềng.

164. Cây Liên hoa Thiêng liêng ¶148
Cây Liên hoa Thiêng liêng là nói về Sadratul Muntaha, “Cây mà đằng sau nó không còn có lối đi” (chú thích 128). Thuật ngữ này được dùng tượng trưng ở đây để chỉ Đức Baha’u’llah.

165. Mỗi sáng và tối hãy đọc thuộc các thánh ngôn của Thượng Đế. ¶149
Đức Baha’u’llah dạy rằng “điều kiện” chính yếu để đọc thuộc “các thánh thi của Thượng Đế” là sự “nhiệt thành và tình yêu” của các tín đồ khi “đọc Thánh ngôn của Thượng Đế”. (Vấn và Đáp 68).

Về định nghĩa “thánh thi của Thượng Đế”, Đức Baha’u’llah dạy rằng thuật ngữ này nói tới “tất cả những gì được ban xuống từ Cõi trời Phát ngôn Thiêng liêng”. Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, gửi cho các tín đồ ở phương Đông, Đức Shoghi Effendi đã minh giải rằng thuật ngữ “thánh thi của Thượng Đế” không gồm các kinh sách của Đức Abdul-Baha; Ngài cũng chỉ ra rằng thuật ngữ này cũng không áp dụng với các văn phẩm của Ngài.

166. Các ngươi được dạy là phải đổi mới các trang bị trong nhà sau mỗi đợt mười chín năm ¶151
Đức Baha’u’llah chuẩn nhận qui định trong Kinh Bayan bằng tiếng Á-rập về việc đổi mới các trang bị trong nhà, mỗi đợt mười chín năm, nếu ta có khả năng làm điều đó. Đức Abdul-Baha liên hệ lệnh này với sự cổ động cho sự tinh tế và sạch sẽ. Ngài giải thích rằng mục đích của luật dạy ta nên thay đổi các trang bị cũ, đã mất sự sáng bóng và gây khó chịu. Luật này không áp dụng đối với những vật hiếm, vật bảo tàng, đồ cổ hoặc nữ trang.

167. Các ngươi hãy rửa chân ¶152
Trong Kitab-i-Aqdas, các tín đồ được khuyên hãy tắm rửa thường xuyên, mặc quần áo sạch và nói chung hãy trở thành tinh hoa của sự sạch sẽ và tinh tế. Kinh Khái yếu và Pháp điển, đoạn IV. D. 3. y. 1-VII, tóm tắt những điều khoản chính. Về việc rửa chân, Đức Baha’u’llah dạy rằng tốt nhất là dùng nước nóng; tuy nhiên, rửa bằng nước lạnh cũng được cho phép (Vấn và Đáp 97).

168. Các ngươi bị cấm dùng tòa giảng. Ai muốn đọc cho các ngươi nghe những câu thánh thi của Chúa mình, kẻ ấy hãy ngồi xuống chiếc ghế đặt trên bục. ¶154
Những điều khoản này có tiền lệ trong Kinh Bayan bằng tiếng Ba-tư. Đức Bab cấm dùng tòa giảng để diễn thuyết hoặc đọc Kinh sách. Thay vào đó, Ngài dạy rằng để giúp mọi người nghe rõ Lời của Thượng Đế, thì có thể đặt cái ghế ngồi trên bục cho người đọc.

Bình giảng về luật này, Đức Abdul-Baha và Đức Shoghi Effendi đã nêu rõ rằng ở trong Mashriqul-Adhkar, (nơi cấm thuyết giảng và chỉ được đọc Lời trong Thánh thư) người đọc có thể đứng hoặc ngồi, và nếu cần được nghe rõ, thì có thể dùng cái bục thấp di chuyển được, nhưng không được phép lập tòa giảng. Về các cuộc họp ở những nơi không phải là Mashriqul-Adhkar, người đọc hoặc người nói cũng được phép ngồi hoặc đứng, và được dùng bục. Trong một Kinh bản của Ngài, khi nhắc đến việc cấm dùng tòa giảng ở mọi nơi chốn, Đức Abdul-Baha đã nhấn mạnh rằng khi người Baha’i đọc bài giảng trong các cuộc họp, họ phải làm điều đó với thái độ khiêm tốn và xả kỷ tột độ.

169. Cờ bạc ¶155
Các hành vi gồm trong điều cấm này không được nêu rõ trong các Thánh thư của Đức Baha’u’llah. Cả Đức Abdul-Baha và Đức Shoghi-Effendi đều dạy rằng Tòa Công lý Quốc tế sẽ qui định chi tiết về luật cấm này. Để trả lời những câu hỏi là xổ số, đánh cá như cá ngựa, cá bóng đá, cá bài, và những trò tương tự, có gồm trong luật cấm cờ bạc hay không, Tòa Công lý Quốc tế đã chỉ ra rằng đây là vấn đề sẽ được xét chi tiết trong tương lai. Hiện thời các cá nhân và các Hội đồng được khuyên là không nên đặt các chuyện này thành vấn đề và hãy để tùy lương tâm các cá nhân tín đồ.

Tòa Công lý đã qui định rằng gây quĩ cho Chánh đạo bằng xổ số, và bằng các trò chơi may rủi là không chính đáng.

170. việc dùng thuốc phiện... bất cứ chất gì tạo nên uể oải và mê mệt ¶155
Điều cấm này về việc dùng thuốc phiện được Đức Baha’u’llah nhắc lại trong đoạn cuối Kitab-i-Aqdas. Về vấn đề này, Đức Shoghi Effendi dạy rằng một trong những điều kiện của “đời sống tinh khiết và thánh thiện” là “hoàn toàn kiêng... thuốc phiện và các thứ thuốc tạo thành thói quen tương tự”. Bạch phiến, ha-sit (hashish) và các dạng chế biến khác từ cây gai dầu như cần sa, cũng như các chất gây ảo giác như LSD, pe-ôt (xương rồng Mê-hi-cô), và các chất tương tự, đều được kể là nằm trong luật cấm này.

Đức Abdul-Baha đã viết:

Về thuốc phiện, nó là thứ xấu xa và đáng ghê tởm. Thượng Đế che chở chúng ta khỏi chịu hình phạt của kẻ dùng nó. Theo nguyên văn trong sáng của Thánh kinh Thiêng liêng Nhất, thì nó bị cấm, và việc dùng nó bị buộc tội thật nặng. Lý trí cho biết rằng hút thuốc phiện là một thứ điên rồ, và kinh nghiệm chứng tỏ rằng kẻ dùng nó bị cách ly hoàn toàn với thế giới loài người. Cầu xin Thượng Đế che chở mọi người khỏi mắc vào một hành động ghê tởm như thế, một hành động làm tàn rụi nền móng của cái gì thuộc về con người, và nó khiến người dùng bị hư mất vĩnh viễn. Vì thuốc phiện trói chặt linh hồn nên lương tâm người dùng chết mất, trí óc người ấy bị xóa sạch, nhận thức người ấy bị xói mòn. Nó biến người sống thành người chết. Nó dập tắt sức nóng tự nhiên. Người ta nhận thấy không có cái gì gây tai hại lớn lao hơn thuốc phiện. Phúc thay cho những người không bao giờ nói đến tên nó; rồi hãy nghĩ xem người dùng nó thì xấu xa biết bao.

Hỡi các ngươi là những người yêu thương của Thượng Đế! Trong chu kỳ này của Đấng Thượng Đế Toàn năng, sự bạo tàn và bạo lực, sự gò bó và áp bức, tất cả đều bị lên án. Tuy nhiên, bất cứ phương tiện nào cũng phải sử dụng nhằm ngăn chận việc dùng thuốc phiện, để may ra loài người có thể được cứu khỏi nạn dịch ghê gớm nhất này. Bằng không, tai ương và khốn khổ sẽ đến với những kẻ không làm tròn nghĩa vụ đối với Chúa mình.

Trong một Kinh bản của Ngài, Đức Abdul-Baha đã phán về thuốc phiện rằng: “Kẻ dùng, kẻ mua và kẻ bán tất cả đều bị tước mất hồng phúc và hồng ân của Thượng Đế.”

Trong một Kinh bản khác nữa, Đức Abdul-Baha đã viết:

Về ha-sit, ngươi đã nêu lên rằng một số người Ba-tư đã quen dùng nó. Trời ơi! Đây là chất gây nghiện độc hại nhất, và sự cấm đoán nó đã được mặc khải rõ ràng. Việc dùng nó gây rã rời tâm trí và kiệt quệ linh hồn. Sao có người tìm trái của cây độc hại, dùng nó, rồi biểu lộ tính khí của quái vật? Sao có người dùng thuốc cấm này và tự mình tước bỏ các ơn phước của Đấng Đại Từ bi?

Rượu hủy hoại tâm trí và khiến người ta mắc vào những hành vi điên rồ, nhưng thuốc phiện, thứ trái gớm ghiếc của cây độc hại này, và thứ ha-sit quỉ quái này, dập tắt tâm trí, làm tê cóng tinh thần, tàn úa linh hồn, hủy hoại thân xác và biến con người thành rối loạn và hư mất.

Ta nên lưu ý rằng điều cấm trên đây đối với việc sử dụng một số loại ma túy không cấm khi được kê toa bởi các lương y trong việc trị liệu.

171. “mầu nhiệm về cuộc Đảo lộn To lớn trong Dấu hiệu của Đấng Tối Thượng” ¶157
Shaykh Ahmad-i-Ahsai (1753-1831), người sáng lập Trường phái Shaykhi và là một trong “hai vì tinh tú báo trước sự xuất hiện Chánh Đạo của Đức Bab”, tiên tri rằng khi Đấng Hứa hẹn xuất hiện, vạn vật sẽ đảo lộn, cuối sẽ thành đầu, đầu sẽ thành cuối. Đức Baha’u’llah trong một Kinh bản của Ngài, có nhắc tới “biểu tượng và ẩn dụ” về “mầu nhiệm của cuộc Đảo lộn To lớn trong Dấu hiệu của Đấng Tối Thượng”. Ngài phán: “Qua cuộc đảo lộn này Ngài đã khiến những người cao cả bị hạ thấp và những người thấp kém được nâng cao”, và Ngài nhắc rằng: “trong những ngày của Chúa Jesus, chính những kẻ lỗi lạc về học vấn, những người uyên bác về văn chương và tôn giáo đã chối bỏ Ngài, trong khi những ngư dân bình thường hối hả bước vào nước Trời” (xem thêm chú thích 172). Muốn biết thêm về Shaykh Ahmad-i-Ahsai, xin xem sách Dawn Breakers (Những người Khai sáng) từ chương 1 đến chương 10.

172. con số “Sáu” được nâng lên nhờ “Đấng Alif Chính trực” ¶157
Trong các tác phẩm của ông, Shaykh Ahmad-i-Ahsai đã nhấn mạnh mẫu tự Á-rập “Vav”. Trong sách “Những người Khai sáng”, Nabil viết rằng mẫu tự này “tượng trưng cho Đức Bab với sự xuất hiện của một chu kỳ mới về Mặc khải Thiêng liêng”, và từ đó đã được Đức Baha’u’llah nhắc đến trong Kitab-i-Aqdas như là “mầu nhiệm về cuộc Đảo lộn To lớn” và “Dấu hiệu của Đấng Tối Thượng”.

Tên gọi mẫu tự “Vav” gồm ba mẫu tự: Vav, Alif, Vav. Theo bảng tính abjad, giá trị của mỗi mẫu tự này là 6, 1 và 6. Đức Shoghi Effendi, trong một bức thư viết theo lệnh Ngài gửi cho một tín đồ ở phương Đông, đã đưa ra lời giải thích câu thánh thi này trong Kinh Aqdas. Ngài viết rằng “Đấng Alif Chính trực” là nói về sự xuất hiện của Đức Bab. Mẫu tự đầu tiên với giá trị bằng sáu, đứng trước Alif, là biểu tượng của sáu Kỳ Cứu độ và Đấng Biểu hiện đến trước Đức Bab, trong khi mẫu tự thứ ba, cũng có giá trị bằng số là sáu, tượng trưng cho Mặc khải tối thượng của Đức Baha’u’llah được cho biểu hiện sau Alif.

173. Các ngươi bị cấm mang vũ khí trừ khi rất cần thiết ¶159
Đức Baha’u’llah chuẩn nhận một phán lệnh trong Kinh Bayan coi việc mang vũ khí là bất hợp pháp, trừ khi cần thiết. Về những tình huống mang vũ khí có thể được coi là “cần thiết” đối với một cá nhân, Đức Abdul-Baha cho phép một tín đồ tự vệ trong môi trường nguy hiểm. Trong một bức thư viết theo lệnh Ngài, Đức Shoghi Effendi cũng chỉ ra rằng, trong trường hợp nguy cấp, khi không có lực luợng tư pháp tại chỗ để cầu cứu, người Baha’i được phép tự bảo vệ mạng sống mình. Còn có một số tình huống khác cần tới vũ khí và được phép sử dụng chính đáng; chẳng hạn như ở những xứ người ta phải đi săn để kiếm cái ăn, cái mặc, và trong các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, đấu kiếm.

Trên bình diện xã hội, nguyên tắc an ninh tập thể do Đức Baha’u’llah công bố (xem Trích Thánh thư của Đức Baha’u’llah, đoạn CXVII) và Đức Shoghi Effendi minh giải (xem các văn thư của Đức Giáo hộ trong sách Nền Trật tự Thế giới của Đức Baha’u’llah) không dự liệu xóa bỏ việc sử dụng vũ lực, nhưng phác họa “một Hệ thống trong đó Vũ lực được đặt làm tôi tớ cho Công lý”, và qui định sự tồn tại của một lực lượng quốc tế gìn giữ hòa bình để “bảo vệ sự thống nhất hữu cơ của toàn khối thịnh vượng chung”. Trong Kinh bản Bisharat, Đức Baha’u’llah bày tỏ niềm hy vọng rằng “vũ khí chiến tranh trên khắp thế giới có thể chuyển thành công cụ xây dựng, và sự đấu tranh và xung đột xóa sạch giữa loài người”.

Trong một Kinh bản khác Đức Baha’u’llah nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bằng hữu giữa tín đồ tất cả các tôn giáo; Ngài cũng dạy rằng “luật thánh chiến đã bị loại ra khỏi Thánh kinh”.

174. và các ngươi được phép mặc tơ lụa ¶159
Theo tập tục Hồi giáo, người ta thường bị cấm mặc tơ lụa, trừ những lúc có thánh chiến. Điều cấm này, không căn cứ trên lời Kinh Quran, đã được Đức Bab hủy bỏ.

175. Đấng Chúa đã cất đi cho các ngươi những hạn chế áp dụng trước kia trong cách ăn mặc và để râu. ¶159
Nhiều qui tắc về ăn mặc bắt nguồn từ luật pháp và tập truyền của các tôn giáo thế giới. Chẳng hạn như giới tu sĩ Shiih đã tự đặt cho mình loại khăn quấn và áo riêng biệt, và có lúc đã cấm dân chúng mặc Âu phục. Tập tục Hồi giáo, trong chủ đích giữ theo phong cách của Đấng Tiên tri, cũng đề ra một số điều cấm về việc tỉa ria mép và độ dài của bộ râu.

Đức Baha’u’llah đã loại bỏ những hạn chế đó về cách ăn mặc và để râu. Ngài để các vấn đề ấy tùy “sự suy xét” của cá nhân, và đồng thời kêu gọi các tín đồ không nên vượt quá giới hạn của sự hợp lễ và giữ sự trung dung trong mọi việc liên hệ tới y phục.

176. Hỡi vùng đất tên là Kaf và Ra! ¶164
Kaf và Ra là hai phụ âm đầu của Kirman, tên của một thành phố và tỉnh của Iran.

177. Chúng Ta thấy điều xuất phát từ nơi ngươi một cách kín đáo nhưng xú uế. ¶164
Đoạn này nhắc tới những âm mưu của một nhóm Azali, những kẻ theo Mirza-Yahya (chú thích 190), liên hệ với thành phố Kirman. Những kẻ đó gồm có Mulla Jafar, con của ông ta là Shayk-Ahmad-i-Ruhi, và Mirza Aqa Khan-i-Kirmani (cả hai đều là con rễ của Mirza Yahya), và cả Mirza Ahmad-i-Kirmani. Họ không những tìm cách phá hoại Chánh Đạo mà còn dây vào những âm mưu chính trị dẫn tới vụ ám sát Nasirid-Din Shah.

178. Các ngươi hãy nhớ lại có vị Shaykh tên là Muhammad Hasan ¶166
Shaykh Muhammad Hasan, một trong những kẻ chống đối hàng đầu trong Hồi giáo Shiih, đã chối bỏ Đức Bab. Là tác giả nhiều sách về luật Hồi giáo Shiih, nghe nói ông ta đã chết khoảng năm 1850.

Trong sách “Những người khai sáng”, Nabil mô tả cuộc chạm trán xảy ra ở Najaf giữa Mulla Ali-i-Bastami, một Mẫu tự của Người sống, và Shaykh Muhammad Hasan. Trong cuộc họp này, Mulla Ali công bố sự biểu hiện của Đức Bab và ca ngợi uy lực Mặc khải của Ngài. Do sự cật vấn của vị shaykh này, Mulla Ali bị buộc tội ngay là ly giáo và bị đuổi ra khỏi cuộc họp. Mulla Ali bị xử án; đày tới Istanbul, và chịu phạt khổ sai.

179. một người sàng lúa mì và lúa mạch ¶166
Điều này nhắc tới Mulla Muhammad Jafar Gandum-Pak-Kun, người đầu tiên ở Isfahan chấp nhận Chánh Đạo của Đức Bab. Trong Kinh Bayan bằng tiếng Ba-tư, ông cũng được nói đến và khen ngợi là người “đã mặc chiếc áo tông đồ”. Trong sách “Những người khai sáng”, Nabil mô tả sự chấp nhận Sứ điệp không chút e dè bởi “người sàng lúa mì” và sự bảo vệ nhiệt tình ông dành cho Tân Mặc khải. Ông tham gia vào đoàn bảo vệ Thành Shaykh Tabarsi và bị giết trong cuộc bao vây đó.

180. Hãy lưu ý kẻo danh xưng “Đấng Tiên tri” ngăn trở các ngươi trước Lời Công bố Tối đại này ¶167
Đức Baha’u’llah lưu ý những người “có linh giác”, đừng để những lời giải thích của chính họ về các Thánh thư ngăn trở họ nhận biết Đấng Biểu hiện của Thượng Đế. Tín đồ của mỗi tôn giáo đều có khuynh hướng để cho lòng tôn sùng của mình đối với Đấng Giáo tổ khiến họ xem Mặc khải của Ngài là Lời cuối cùng của Thượng Đế, và chối bỏ khả năng về sự xuất hiện của một Đấng Giáo tổ đến sau. Đây là trường hợp của Do thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Đức Baha’u’llah bác bỏ giá trị của quan niệm chung cuộc này cả về mối liên hệ đối với các kỳ Cứu độ trước cũng như đối với kỳ Cứu độ của chính Ngài. Đối với người Hồi giáo, Ngài viết trong Kitab-i-Iqan rằng “con dân của Kinh Quran đã để cho những từ ‘Dấu ấn của các Đấng Tiên tri’ che mờ mắt họ”, “làm tối nhận thức của họ, và tước đoạt của họ đặc ân nhận lãnh mọi thiên phước đa dạng của Ngài”. Ngài khẳng định rằng “đề tài này đã từng... là một thử thách đớn đau đối với toàn thể nhân loại”, và khóc thương cho số phận của “những kẻ, bám vào các từ này, mà không tin nơi Ngài là Đấng Mặc khải thực sự của họ”. Đức Bab cũng nhắc tới chính đề tài này khi Ngài cảnh cáo: “Đừng để các danh biến thành cái màn ngăn che các ngươi với Ngài là Đấng Chúa của các danh, kể cả danh Đấng Tiên tri, vì danh ấy chỉ do lời Ngài tạo nên”.

181. sự nhắc nhở tới “Quyền Đại diện” ngăn trở các ngươi đến với Ngài là Đấng Đại diện của Thượng Đế ¶167
Thuật ngữ được dịch ra đây thành “Quyền Đại diện”, nguyên gốc tiếng Á-rập là “Vilayat” gồm rất nhiều nghĩa như “quyền đại diện”, “chức giáo hộ”, “quyền bảo hộ”, và “quyền kế vị”. Thuật ngữ này được dùng để chỉ sự liên hệ với chính Thượng Đế, với Đấng Biểu hiện của Ngài, hoặc với những người kế vị được chỉ định của Đấng Biểu hiện

Trong câu kinh Aqdas này, Đức Baha’u’llah cảnh cáo về việc để cho những khái niệm cản trở sự nhận biết “Quyền Tối thượng” của Đấng Tân Biểu hiện Thiêng liêng, “Đấng Đại diện của Thượng Đế” thực sự.

182. Các ngươi hãy nhớ lại gã Karim ¶167
Haji Mirza Muhammad Karim Khan-i-Kirmani (1810-1873) tự phong là lãnh đạo của cộng đồng Shaykhi sau khi Siyyid Kazim qua đời; và Siyyid Kazim đã chính thức được Shaykh Ahmad-i-Ahsa’i chỉ định làm người kế vị (chú thích 171 , chú thích 172), Karim nhiệt thành phổ biến lời dạy của Shaykh Ahmad. Ý kiến do ông ta phát biểu trở thành đề tài tranh cãi giữa những người ủng hộ và những người chống đối ông ta.

Được xem là một trong những tác giả và nhà thông thái hàng đầu đương thời, ông ta biên soạn nhiều sách và thư trong nhiều lãnh vực học thuật được dạy dỗ vào thời ấy. Ông ta tích cực chống đối cả Đức Bab và Đức Baha’u’llah, và dùng những bài tham luận để tấn công Đức Bab và giáo lý của Ngài. Trong Kitab-i-Iqan, Đức Baha’u’llah lên án giọng văn và nội dung các tác phẩm của ông ta, và bình luận riêng một quyển sách của ông ta chứa đựng những ám chỉ tiêu cực về Đức Bab. Đức Shoghi Effendi mô tả ông ta là một con người “có tham vọng và đạo đức giả quá mức”, và mô tả “ông ta đã nhận lệnh đặc biệt của Vua Ba-tư để viết sách tấn công thâm độc các giáo pháp và nền Chánh Đạo mới” như thế nào.

183. Hỡi những người học thức trong Đấng Baha ¶173
 Đức Baha’u’llah ca ngợi những người học thức trong các tín đồ của Ngài. Trong Kinh Giao ước của Ngài, Ngài viết: “Phúc thay cho những người quản lý và những người học thức trong vòng con dân Đấng Baha”. Nhắc tới lời dạy này, Đức Shoghi Effendi viết:

Trong chu kỳ thánh thiện này những “người học thức”, một mặt gồm các Giáo thủ, và mặt khác gồm các uỷ viên truyền giáo và những người phổ biến Giáo lý của Ngài, không thuộc hàng Giáo thủ, nhưng đã đạt tới vị trí tôn trọng trong việc truyền giáo. Còn những “người quản lý” là chỉ các ủy viên Tòa Công lý Quốc tế, Quốc gia và Địa phương. Nhiệm vụ của mỗi linh hồn trong các linh hồn này sẽ được xác định trong tương lai.

Các vị Giáo thủ của Chánh Đạo Thượng Đế là những cá nhân được Đức Baha’u’llah chỉ định và giao phó nhiệm vụ khác nhau, đặc biệt là nhiệm vụ bảo vệ và truyền bá Chánh Đạo của Ngài. Trong sách “Tượng đài của những Người thành tín”, Đức Abdul-Baha đã nhắc tới những tín đồ lỗi lạc khác như là những Giáo thủ của Chánh Đạo, còn trong “Chúc thư và Giao ước” của Ngài thì có điều khoản khiến Đức Giáo hộ có thể chỉ định các Giáo thủ theo sự lựa chọn riêng của mình. Trước hết Đức Shoghi Effendi phong tặng một số cố đạo hữu cương vị Giáo thủ, và trong những năm cuối đời Ngài, Ngài đã cử tổng cộng 32 tín đồ ở tất cả các lục địa vào chức vị này. Trong giai đoạn giữa sự thăng thiên của Đức Shoghi Effendi năm 1957 và cuộc bầu cử Tòa Công lý Quốc tế năm 1963, các vị Giáo thủ đã điều hành các công việc của Chánh Đạo với tư cách là Quản lý trưởng của Khối Thịnh vượng Thế giới còn sơ sinh của Đức Baha’u’llah (chú thích 67). Tháng 11 năm 1964, Tòa Công lý Quốc tế xác định rằng không thể lập qui để cử các Giáo thủ. Thay vào đó, do quyết định của Toà Công lý Quốc tế năm 1968, các chức năng của chư vị Giáo thủ liên quan đến bảo vệ và truyền bá Chánh Đạo được mở rộng trong tương lai bằng sự thành lập các Ban Cố vấn các Châu, và trong năm 1973 qua việc thành lập Trung Tâm Truyền giáo Quốc tế, có trụ sở đặt tại Thánh Địa.

Toà Công lý Quốc tế chỉ định các cố vấn thành viên của Trung tâm Truyền giáo Quốc tế và của Ban Cố vấn các Châu. Các Ban Tùy viên do các Ban Cố vấn các Châu chỉ định. Tất cả các cá nhân này được gồm trong định nghĩa “người học thức” mà Đức Shoghi Effendi đã nêu trong đoạn văn trích ở trên.

184. các ngươi hãy trình những điều khó hiểu trong Thánh kinh lên Ngài là Đấng đâm cành từ thân Cây Đại hùng này ¶174
 Đức Baha’u’llah ban cho Đức Abdul-Baha quyền giải thích các Thánh thư của Ngài (chú thích 145).

185. ngôi Trường của sự Nhất thể Thiên thượng ¶175
Trong câu kinh này và những câu tiếp theo, Đức Baha’u’llah bác bỏ một trong những lý lẽ khiến người Babi không chấp nhận lời tuyên xưng của Ngài là Đấng Hứa hẹn của Kinh Bayan. Sự khước từ của họ căn cứ trên một Kinh bản của Đức Bab gửi đến “Đấng mà Thượng Đế sẽ cho biểu hiện” mà ở trang sau Đức Bab đã viết: “Cầu cho cái nhìn của Đấng mà Thượng Đế sẽ biểu hiện rọi sáng bức thư này ở trường sơ học”. Kinh bản này được in trong “Tuyển tập các Thánh thư của Đức Bab”.

Người Babi lập luận rằng, vì Đức Baha’u’llah lớn hơn Đức Bab hai tuổi thì không thể nào Ngài nhận được Kinh bản ấy “ở trường sơ học”.

Ở đây Đức Baha’u’llah giải thích rằng lời ấy nhắc tới những biến cố diễn ra trong các thế giới tâm linh vượt ra khỏi cõi sinh tồn.

186. Chúng Ta tiếp nhận những câu thánh thi của Thượng Đế... mà Ngài đã giới thiệu cho Chúng Ta ¶175
 Trong Kinh bản Ngài gửi cho “Đấng mà Thượng Đế sẽ cho biểu hiện”, Đức Bab nêu rõ Kinh Bayan như là lễ vật Ngài hiến dâng Đức Baha’u’llah. Hãy xem “Tuyển tập các Thánh thư của Đức Bab”.

187. Hỡi con dân của Kinh Bayan! ¶176
Chỉ các tín đồ của Đức Bab.

188. các mẫu tự B(bi) và E(i) được ráp nối và đan chặt vào nhau ¶177
Đức Shoghi Effendi, trong những bức thư viết theo lệnh Ngài, đã giải thích ý nghĩa của các “mẫu tự B và E”. Nó họp thành từ “Be” (bi), mà Ngài dạy, “nghĩa là Lực tạo sinh của Thượng Đế qua phán lệnh của Ngài khiến vạn vật thành hiện hữu” và “uy lực Đấng Biểu hiện của Thượng Đế, sức mạnh tạo sinh tâm linh to lớn của Ngài”.

 Động từ mệnh lệnh cách “Be” (bi) trong tiếng Á-Rập “kun”, gồm hai mẫu tự “kaf” và “nun”. Các mẫu tự này đã được Đức Shoghi Effendi dịch như trên. Từ này đã được dùng trong Kinh Quran như là phán lệnh của Thượng Đế kêu vạn vật vào cõi hiện hữu.

189. nền Trật tự Thế giới mới này ¶181
Trong Kinh Bayan tiếng Ba-tư, Đức Bab dạy: “Phước cho người gắn chặt cái nhìn vào nền Trật tự của Đức Baha’u’llah, và dâng lời tạ ơn lên Chúa mình. Vì chắc chắn Ngài sẽ được biểu hiện. Thượng Đế đã an bài điều đó trong Kinh Bayan”. Đức Shoghi Effendi cho rằng “Nền Trật tự” này là Hệ thống mà Đức Baha’u’llah đã nêu trong Aqdas, trong đó Ngài chứng nhận hiệu quả biến cải tận gốc đời sống nhân loại, và khải lộ những qui luật và nguyên lý quản trị hoạt động của Hệ thống ấy.

 Những nét chính của “Nền Trật tự Thế giới mới” này đã được nêu rõ trong các Thánh thư của Đức Baha’u’llah, của Đức Abdul-Baha, trong các văn thư của Đức Shoghi Effendi và của Tòa Công lý Quốc tế. Các cơ cấu của Nền Quản trị Baha’i ngày nay, hợp thành “nền móng cấu trúc” Nền Trật tự Thế giới của Đức Baha’u’llah, sẽ chín muồi và tiến hoá thành Cộng đồng Thịnh vượng Thế giới Baha’i. Về điểm này, Đức Shoghi Effendi khẳng định rằng Nền Quản trị “khi các thành tố của nó, các cơ cấu hữu cơ của nó, bắt đầu hoạt động một cách có hiệu quả và có sinh lực, sẽ xác nhận lời công bố và chứng minh khả năng của nó đáng được xem như không những là cốt lõi mà còn là chính kiểu mẫu của Nền Trật tự Thế giới Mới có sứ mạng bảo bọc toàn thể nhân loại khi đến thời kỳ viên mãn”.

Để có thêm thông tin về sự tiến triển của Nền Trật tự Thế giới mới này, hãy xem các văn thư của Đức Shoghi Effendi in trong sách “Nền Trật tự Thế giới của Đức Baha’u’llah”.

190. Hỡi nguồn gốc của trụy lạc! ¶184
Đây là nói về Mirza Yahya, còn có tên gọi thông dụng là Subh-i-Azal (Buổi sáng Vĩnh cửu); em khác mẹ của Đức Baha’u’llah, người đã đứng lên chống Đức Baha’u’llah và Chánh Đạo của Ngài. Mirza Yahya đã được Đức Bab chỉ định phục vụ như là người đứng đầu cộng đồng Babi trong khi chờ đợi sự biểu hiện sắp đến của Đấng Hứa hẹn. Do sự xúi giục của Siyyid Muhammad-i-Isfahani (chú thích 192), Mirza Yahya đã phản bội sự ký thác của Đức Bab , ông ta tự xưng là người kế vị Đức Bab, và lập mưu chống Đức Baha’u’llah, kể cả chủ tâm sát hại Ngài. Khi Đức Baha’u’llah chính thức tuyên bố cho ông ta biết Sứ mạng của Ngài ở Adrianople, Mirza Yahya đáp ứng bằng cách liều lĩnh hơn với sự tự xưng mình là người tiếp nhận một Mặc khải độc lập. Những điều mạo xưng của ông ta đã bị mọi người phủ nhận, ngoại trừ một số nhỏ mà người ta gọi là Azali (chú thích 177). Đức Shoghi Effendi đã mô tả ông ta là “Kẻ Phản ước đầu sỏ đối với Giao ước của Đức Bab” (xem sách God Passes By, chương X).

191. hãy nhớ Chúng Ta đã nuôi dưỡng ngươi ngày đêm như thế nào để phụng sự Chánh Đạo ¶184
Trong sách God Passes By, Đức Shoghi Effendi đã nhắc đến sự kiện là Đức Baha’u’llah, lớn hơn Mirza Yahya mười ba tuổi, đã dạy dỗ ông ta và chăm sóc ông ta trong tuổi ấu thơ và lúc thành nhân.

192. Thượng Đế đã tóm lấy kẻ dắt ngươi đi lạc đường.¶184
Đây là nhắc về Siyyid Muhammad-i-Isfahani, người được Đức Shoghi Effendi mô tả là “Antichrist của Mặc khải Baha’i”. Ông ta là người có tính nết đồi truỵ và tham vọng cá nhân thật lớn đã xúi giục Mirza Yahya chống Đức Baha’u’llah và tự phong chức vị tiên tri (chú thích 190). Dù ông ta là đồ đệ của Mirza Yahya, Siyyid Muhammad lại cùng bị đày theo Đức Baha’u’llah sang Akka. Ông ta tiếp tục gây rối và bày mưu chống Đức Baha’u’llah. Mô tả tình huống về cái chết của ông ta, Đức Shoghi Effendi đã viết trong sách God Passes By như sau:

Một mối nguy mới rõ ràng hiện đang đe dọa mạng sống của Đức Baha’u’llah. Dù chính Ngài, trong nhiều trường hợp, đã dùng lời nói và văn viết nghiêm cấm các tín đồ Ngài về bất cứ hành động báo thù nào đối với những kẻ hành hạ mình, kể cả việc gửi trả về Beirut một tín đồ vô trách nhiệm người Á-rập đã nghĩ cách báo trả những nỗi khốn khổ mà Người Lãnh đạo kính yêu đã nhận chịu, bảy người đồng mưu đã bí mật truy tìm và giết chết ba kẻ đàn áp họ, trong đó có Siyyid Muhammad và Aqa Jan.

Sự sửng sốt trùm lên cộng đồng bị áp bức thật không sao tả nổi. Sự bất bình của Đức Baha’u’llah thật quá sức. Ngài đã thốt lên sự xúc động của Ngài trong một Kinh bản được mặc khải ngay sau hành động quá phạm này: “Nếu Chúng Ta nhắc tới những điều đã xảy ra cho Chúng Ta, thì các tầng trời sẽ bị đổ nát và các ngọn núi sẽ vỡ vụn”. Ở nơi khác Ngài viết: “Sự giam giữ Ta không thể làm hại Ta. Điều có thể làm hại Ta là hạnh kiểm của những người yêu Ta, những người xưng là có liên hệ với Ta, nhưng lại làm những điều khiến cõi lòng Ta và ngòi bút của Ta phải kêu khóc.”

193. Hãy chọn một thứ tiếng nói duy nhất... các ngươi cũng chọn một thứ chữ viết chung. ¶189
Đức Baha’u’llah dạy phải chấp dụng một thứ tiếng nói và chữ viết chung cho thế giới. Kinh sách của Ngài hình dung hai giai đoạn trong quá trình này. Giai đoạn thứ nhất là chọn một ngôn ngữ hiện có hoặc sáng chế ra một thứ tiếng để dạy trong tất cả các trường học trên thế giới như là một ngôn ngữ phụ bên cạnh tiếng mẹ đẻ. Các chính phủ trên thế giới, thông qua quốc hội, được kêu gọi lập qui về vấn đề này. Giai đoạn thứ hai, trong tương lai xa, là cuối cùng hết sẽ chấp dụng một ngôn ngữ duy nhất và một thứ chữ viết chung cho cả địa cầu.

194. Chúng Ta đã qui định hai dấu hiệu cho tuổi trưởng thành của cả loài người ¶189
Dấu hiệu thứ nhất về tuổi trưởng thành của nhân loại được nhắc tới trong các Thánh thư của Đức Baha’u’llah là sự xuất hiện của một khoa học được mô tả như là “triết lý thiên thượng” sẽ gồm có sự khám phá cách thức căn bản để chuyển hoá các nguyên tố. Đây là dấu chỉ về vẻ huy hoàng của sự bùng nổ tri thức thật diệu kỳ trong tương lai. Về dấu hiệu thứ hai mà Đức Baha’u’llah chỉ ra và được mặc khải trong Kitab-i-Aqdas, Đức Shoghi Effendi dạy rằng Đức Baha’u’llah “... trong Bộ Thánh kinh Thiêng liêng Nhất của Ngài đã ban lệnh phải chọn một ngôn ngữ duy nhất và chấp dụng một thứ chữ viết chung cho mọi người trên trái đất sử dụng, một phán lệnh khi thực hiện sẽ là một trong những dấu hiệu về ‘tuổi trưởng thành của nhân loại’ như chính Ngài đã khẳng định trong Thánh kinh ấy.

Tri giác sâu hơn, về quá trình tới tuổi trưởng thành này của nhân loại và tiến tới sự trưởng thành, đã được ban cho trong lời phán sau đây của Đức Baha’u’llah:

“Một trong những dấu hiệu về sự trưởng thành của thế giới là không ai chấp nhận mang gánh nặng vương quyền. Vương quyền sẽ tồn tại nhưng không ai muốn đơn độc mang gánh nặng của nó. Ngày ấy sẽ là ngày trí khôn được biểu hiện trong nhân loại.”

Sự đến tuổi trưởng thành của loài người đã được Đức Shoghi Effendi kết hợp với sự thống nhất toàn nhân loại, sự thành lập khối thịnh vượng chung cả thế giới, và sự thúc đẩy chưa từng có “đời sống trí tuệ, đạo đức, tâm linh của toàn thể loài người.”

